Quay lại

Hạn Khuống

Quán Vi Miên  |   16/1/2024

1. "Hạn Khuống" là một từ trong ngôn ngữ Thái, lâu nay thường được báo chí, truyền hình nhắc đến, khi giới thiệu một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng độc đáo của dân tộc này. Tuy nhiên, việc dịch từ này sang tiếng Việt, theo chúng tôi thì cần phải trao đổi thêm.

Tác giả Cầm Biêu (CB), dịch: "Hạn Khuống - nghĩa đen là sàn sân, tức là một cái sàn dựng ở ngoài sân" (1). Theo đó, nhiều người sau này cũng viết như vậy. Ví dụ như tác giả Quang Huy, viết: "Hạn là sàn, khuống là sân. Sàn - sân (cái sàn dựng ở ngoài sân)" (2). Lại có người dịch “Hạn Khuống” là “Sàn hoa”, như tác giả Lường Hương: “Hạn Khuống là Sàn hoa… (3)”. Cũng như vậy, tác giả bài báo  Lửa sàn hoa - một chi tiết hay, viết: "Sàn hoa được dịch ra tiếng Kinh từ tiếng Thái là Hạn Khuống" {…}. Cũng có người, khi làm thơ, đã gọi “Hạn Khuống” là "sàn trăng", đây đã là phép tu từ (ẩn dụ, ví ngầm), chứ không phải “dịch”, cho nên chúng ta không bàn đến ở đây.

Một màn hát đối đáp trong Hạn Khuống của người Thái. Ảnh: TTXVN

Trở lại với cách dịch của CB, "Hạn" là "sàn", và "Khuống" có nghĩa là "sân"? Theo chúng tôi, "Hạn" là "sàn", từ này đã dịch đúng, nhưng "Khuống" thì không hẳn là "sân", một cái "sân" cụ thể. Về mặt từ nguyên, "Khuống" thường được nhắc đến trong các áng mo Thái, trong dân ca Thái khi nói đến một địa danh ở Mường Then (Mường Trời), nơi hẹn hò của trai gái trước khi xuống trần gian, và cả sau khi chết, hồn về Mường Then với tổ tiên, họ cũng chờ nhau ở đấy. Xin trích một đoạn trong dân ca Thái: “Khi nào anh chết trước, hãy lên nơi Huổng Co Mường Then chờ em/ Huổng Co, ấy là nơi của gái út và gái thứ/ Cây đa, bến nước là nơi của gái nhỡ, gái choai/ Lời anh nói với em, em quên sao được”. Ở đây, từ "Khuống" biến âm thành "Huổng" theo cách nói của người Thái - Nghệ An. "Co" là cánh đồng "Tổng Co", cánh đồng ở Mường Then. Vậy, Huổng Co là cánh đồng, nơi trai gái hẹn hò, giao duyên. Ngày nay, người con gái Thái - Nghệ An ngồi thêu, dệt, may, bật bông, quay sợi… đêm khuya bên bếp lửa, hoặc ngoài sàn ("Hạn Khuống" như người Tây Bắc gọi), đều được gọi là "nẳng huổng", tức ngồi nơi có thể tiếp bạn trai, giao duyên. Từ "nẳng huổng", tác giả Lê Bá Liễu đã giải thích đúng là "ngồi sàn ca hát, đối đáp, giao duyên" (4). Cách giải thích đó đúng về bản chất. Trên thực tế, với người Thái - Nghệ An, khi mấy người đàn ông, đàn bà già ngồi se sợi, đan chài, đan vó, ăn trầu, hút thuốc với nhau, họ cũng gọi là "nẳng huổng", tức là ngồi nói chuyện tâm tình, tâm sự, v.v. Như vậy "Khuống" (Huổng) có một nghĩa chung, nghĩa rộng là "nơi tâm tình, giao lưu". Đó có thể là cái sàn ở ngoài sân, hay là một nơi trong nhà sàn, hoặc một nơi có cây đa, bến nước, bãi cỏ, cánh đồng…Vì những lẽ đó, chúng tôi dịch "Hạn" là "sàn", “Khuống" là nơi "tâm tình, giao lưu"; "Hạn Khuống" là "Sàn tâm tình, giao lưu" (5).

Nó là cái sàn được làm bằng những cây tre to ghép lại, dài khoảng 6 mét, rộng 4 mét và cao khoảng hơn 1 mét, mặt sàn có diện tích từ 16 - 24 m2, xung quanh có những chấn song đan hình mắt cáo, có một cửa ra vào, lên xuống bằng cầu thang và có từ 3 đến 5 bậc. Ở giữa sàn có một bếp lửa, cạnh bếp lửa người ta dựng cây vũ trụ, tiếng Thái gọi là cây “Lắc xay” (cột thầy). Cây này giống như cây nêu ngày Tết, trên ngọn để nguyên chùm lá treo những hình con ve, chim, hoa quả, xúc xích được đan bằng lạt xanh, đỏ trông rất rực rỡ. Sàn phải được làm thật chắc bởi trên sàn còn đủ thứ đồ cho trai làng, gái bản trổ tài khéo tay như: vòng quay, kéo sợi, đan lát, thêu thùa… Số lượng trai gái tham gia Hạn Khuống không giới hạn, thường thì có khoảng từ  5 - 10 đôi. Các cô gái Thái duyên dáng trong trang phục váy áo cỏm truyền thống, vấn tóc đẹp, đội khăn Piêu. Còn các chàng trai tay cầm khèn, sáo (pí) để đệm cho những câu Khắp tình tứ lúc giao duyên. Mùa xuân, đặc biệt là ngày lễ Tết, các cô gái, chàng trai Thái tham gia hội Hạn Khuống với mong muốn tìm được một người bạn gái để xây dựng gia đình. Trong buổi sinh hoạt, nhóm các cô gái lên sàn rồi rút thang, sau đó cô “Tổn khuống” (gái gốc) được ví như cô trưởng nhóm, bắt đầu nhóm lửa rồi đặt chiếc sa quay sợi, lưng dựa vào cây “Lắc xay” chính giữa sàn ngồi quay sợi, các cô khác chia nhau ngồi cạnh để kéo sợi hay thêu thùa, may vá… Ngọn lửa “Hạn Khuống” cháy sáng rực cả một góc bản làm cây “Lắc xay” càng thêm lung linh nhiều màu sắc (6). 

Cái sàn “Hạn Khuống” từ Tây Bắc vào đến Nghệ An thì đã có sự biến đổi. Cái sàn “tâm tình, giao lưu trai gái” này có thêm chức năng “phơi phóng”, nghĩa là “ban ngày thì dùng để phơi phóng (thóc lúa, bông vải, hạt giống, quần áo, v.v), ban đêm trai gái có thể gặp gỡ, tâm tình…”. Và nó cũng được làm đơn sơ hơn, không quy củ, cầu kỳ, sặc sỡ như Hạn Khuống – Tây Bắc. Ở đây nó được gọi là “Chan he”, có mấy nghĩa, nhưng nghĩa cơ bản là “sàn phơi”… Những cái “Chan he” này còn thấy phổ biến cho đến những năm 50 - 60 của thế kỷ trước, nay thì hầu như không còn nữa. Trong khi đó thì “Hạn Khuống - Tây Bắc” lại đang được phục hồi.   

 2. Ở Hạn Khuống, lối hát Khắp (dân ca Thái – Tây Bắc) giao duyên là lối hát chủ đạo. Các chàng trai phải hát Khắp đối đáp với các cô gái cho đến khi được họ đồng ý cho lên sàn Hạn Khuống. Các cô gái đáp lại với những câu Khắp từ chối chưa dám hẹn hò, sợ chàng trai đã có vợ, đã có người yêu. Họ cứ hát như vậy cho đến khi người con trai khẳng định rằng mình chưa có vợ và chiếm được lòng tin cho người con gái thì người con gái mới thả thang cho người con trai lên sàn Hạn Khuống. Khi được lên sàn, các chàng trai bắt đầu tìm đến cô gái mình thích và mong muốn được kết duyên. Họ hát đối đáp với nhau bày tỏ tình cảm. Tuy nhiên, chàng trai muốn làm một điều gì thì đều phải hát Khắp xin được sự cho phép của cô gái. Trai gái hát Khắp Hạn Khuống đã tạo nên một “mảng” dân ca riêng, nó được cấu trúc chặt chẽ, trật tự, có bắt đầu và có kết thúc. Bối cảnh diễn xướng vào ban đêm. Các chàng trai đến dưới sàn, bắt đầu cất tiếng hát bài “Ngợi ca Hạn Khuống”: “Đàng xa nhìn thấy lửa/ Đàng xa nhìn thấy nước/ Thấy nước sông sâu muốn lặn/ Thấy nước sông trong muốn uống/ Thấy áo đen chàm muốn mặc/ Thấy em má hồng muốn chuyện/ Thấy người, mắt liếc muốn trao/ Thấy Hạn Khuống dựng lộng lẫy muốn lên lắm thay!/ Khéo đưa người từ nơi nao đến dựng?/ Khéo kiếm gỗ từ nơi nào đến xây?/ Thấy đàn ve sầu treo chóp cột lớn từng chuỗi/ Thấy giàn quả dâu treo đỉnh cột to kín ngọn/ Nghe tiếng đàn tính tẩu hòa nhịp cồng, đàn môi, sáo, nhị/ Giọng nói cười trai gái mừng vui quấn quyện lắm thay!” (Dú lắc phó hên phay/ Dú cay phó hên nặm/ Phó hên nặm băng lấc chăư dắng/ Phó hên nặm băng cắm chắư kin/ Phó hên xứa lăm nin chăư tháy/ Phó hên chụ kem máy chăư tha/ Phó hên tá lướt le chăư tản/ Phó hên hạn khuống tắng hưa pộn chăư kém puông cợn lê/ Chang âu cốn mương lăư ma tẳng/ Cháng âu mạy nắng pá mương lăư ma pun/ Phó hên to chắc chắn hỏi lắc nhắư xon lon/ Phó hên to mak mon hỏi lắc xay hổm hính/ Phăng nghín to xương tính kiểu xương coọng hơn pí xí lo/ Xương hua co báo xao muốn mua cắu cúa cợn lê!) (7). Tiếp theo, hát bài “Xin lên Hạn Khuống”: “Xin lên sàn cùng “rồng” lượn với nhé!/ Xin lên cao cùng “rồng” bay với nhé!/ Xin lên “lồng” chim gáy/ Xin lên đùa vui cùng phúc đức “rồng” với nhé!/ Thang 3 bậc thả xuống đưa anh lên!/ Thang 5 bậc thả xuống dẫn anh “thượng”!/ Thang tre nhỏ của nàng thả xuống cho anh lên với nhé!”(Xo khứn khản huôm luông én dơ/ Xo khửn ten huôm luông con lé nơ/ Xo kh ửn con nộc tủ/ Xo khửn dok chụ huôm phúc bun luông lé dơ/ Lay xam khẳn lôông phốc ău ái lé dơ/ Lay há khẳn lôông diêu ău ái lé dơ/ Lay hiêu nọi peng xai lôông cái âu ái le dơ!) (Sđd ở Chú thích 7; tr. 315; từ đây trở đi dẫn theo sách này). Các cô gái ở trên sàn hát bài “Chưa có thang lên”: “Thang 3 bậc còn ở trên rừng bương/ Thang 5 bậc còn ở trên rừng mét (tre)/ Không có dao mỏng lưỡi không chặt lấy được/ Cây bương lớn lá xòa nó ở trên cao/ Em đây một mình sao lên lấy được?/ Em sẽ kiếm lá dong nhẵn về gói cơm chiều/ Em sẽ kiếm lá “kẻm đeng” (má hồng) đem về gói cơm/ Sẽ nhờ đến anh, em đi chặt làm thang/ Hãy tĩnh tâm “mềm” tựa như nước đường/ Hãy tĩnh tâm ngọt tựa như nước mía/ Hãy nán đợi chút ít, sau sẽ có thang, anh ơi!” (Lay xam khẳn nhăng dú cơ pu hôốc/ Lay há khẳn nhăng dú cơ pu xang/ Báu mi pạ côm bang báu thang âu lảy/ Mạy hôốc lúa bắư cọm măn dú chom thiêu/ Khuôn nhing côn điêu báu tiêu ắu lảy/ Khuôn nhing chắng chí ha toong ching kiểng ma hó leng/ Khuôn nhing chắng chí ha toong kẻm đeng ma hó khẳu/ Chắng chí nhơ họt chẳu pi noọng ma lao âu lay/ Coi dệt chăư ón xương nặm tan/ Coi dệt chăư ban xương nặm ỏi/ Coi choóng thả lệch nọi lang mắư mi lay ải ơi!) (Sđd, tr. 316 – 317). Các chàng trai hát bài “Bị dĩn muỗi đốt”: “Dĩn đốt anh, “ăn” (máu) hết bằng cái bung rồi!/ Muỗi đốt anh, “ăn” (máu) hết bằng cái rá rồi!/ Bọ chó từng đàn leo bám, anh chịu sao đành!/ Em thương của anh ơi!” (Hịn kin lả hưk mết to bung lẹo lỏ/ Nhung kin chai hưk mết to pựn lẹo lỏ/ Tó mắt khửn hưn hựn chí hẳư pi lả dệt xứ pên lê ha/ Noọng lả ái ơi!) (Sđd, tr. 318). Đến lúc này các cô gái mới thả thang xuống cho các chàng trai lên sàn. “Bây giờ thang 3 bậc em thả xuống/ Thang 5 bậc em trao/ Thang tre nhỏ em bắc/ Nếu lên, hãy “lắc” xem thử cái thang/ Không lắc thử, lỡ thang em bị mọt/ Không “dộng” thử, lỡ thang em lung lay/ Gặp thang mọt, e hồn anh tủi/ Thang “hụt”, anh lên sẽ ngã/ Anh ngã rồi không có “rượu lợn” cúng vía/ Không có người thương giống như mình ước/ Không có chồng Tạo (quý tộc) trai trẻ/ Nếu lên, hãy lên ngồi bó củi/ Ngồi chỗ nút lạt, xin dạy/ Ngồi bó củi, khẽ đổi trao/ Ai có người tình trong bản hãy đánh dấu phẩm xanh/ Ai có con nhỏ nũng nịu bên nách, xin hãy đừng lên/ Không phải “con voi”, đừng đến dẫm sàn bếp em/ Chẳng phải người chơi thành thạo, chớ đến trò chuyện yêu thương) (Kháy nị lay xam khẳn khuôn nhing chắng phôốc/ Lay hiêu nọi peng sai chắng cái/ Chí khứn hưk chắng coi xăn lu lay/ Báu xăn lu lay hưk dản to lay nhing con/ Lay lok khuôn pí lá chí on/ Lay lon lẹo pí lá chí tôốc/ Pi lả tôốc lẹo báu mi mu lẳu xú khuôn/ Bắu mi kéo bun păn mới chẳu/ Bắu mi nẳu phua tạo nóm nok ma păng/ Chí khứn chắng khửn ma nắng “khun lon” (khon lua)/ Năng khót tok coi xon/ Nắng “khua lon” (khon lua) coi tản/ Phăư mi chụ cuông bản hưk dát da kheo/ Phăư mi luk khoen eo éo neo nha khửn/ Báu chư chạng tin phới ma nhẳm chí phay lả/ Báu ới in pên chụ nha ma tán xiết xương lé nơ!) (Sđd, tr. 319 – 320). Các chàng trai lên sàn rồi, còn đứng, chưa ngồi ngay. Thứ nhất là để tìm đối tượng, thứ hai là để xem thái độ các cô/từng cô ra sao, để “tiếp cận”. Thấy thế, các cô lại hát: “Sừng sững đứng như cây thế, anh ơi!/ Sững sờ như cây gỗ dựa vách đất/ Vợ chàng nhắn đến đứng sao?/ Muốn trở về, sao không về từ khi còn mặt trời?/ Thương nhớ người yêu, sao lại lên đây thăm dò?” (Pên xa păng xương mạy inh hưak chin lê/ Pên xa pưak xương may inh phắng/ Mia lả xắng ma dưn ả/ Ê cưn chắng báu cưn té ta vên nhăng chậu lê ha/ Ê thẳng nấu ming chụ chí khửn ma thóm âu quam xăng lê) (Sđd, tr. 321). Đây cũng là nhưng lời “thăm dò” của các cô. Đến lúc này các chàng trai mới hát bài “Hỏi mượn ghế”: “Không có ghế anh đây đành phải đứng/ Nắng lên chiếu rọi chân ghế mây vàng/ Thương anh, xin hãy đưa ghế anh mượn ngồi” (Bắu mi táng pi lả chắng dưn lok/ Lét ok toỏng tin tắng bai lương/ Xương chai hẳu khuôn chai dọn tắng lê dơ!) (Sđd, tr. 322). Các cô gái lại “thử thách”: “Em đây đáng có chiếu trải, anh thương ơi!/ Đáng có “cót” trải phẳng/ Đáng có chăn bạc vàng trải lớp lớp mới phải/ Thế nhưng anh em Xá mường Húa chưa đến bán mây/ Anh em Xá mường Quai chưa đến bán ghế/ Ngồi ghế gỗ trò chuyện tiếp lời/ Chiếc ghế mây đổi bằng “4 sải vải” (1 “chầu”)/ Nghèo hay không mong anh nghĩ dùm/ Chẳng có ghế, ngồi gộc (cây)/ Chẳng có cây, ngồi khúc gỗ/ Không có khúc gỗ, ngồi giữa sàn thôi anh ơi!” (Khuôn nhing hưk thưk mi phuk pu át tẹ lỏ pi lả ơi!/ Thưk mi xát pu diên/ Thưk mi chiên ngơn căm pu cái tẹ na/ Hak va hư pi noọng xả mương huak báu hê ma khai bai/ Pi no ọng xả mương quai báu hê ma khai tắng/ Khắng tẳng bỏm ma tó tam quam/ Khắng tắng bai măn tó tăm chắu phải/ Hạy bắu hạy pi lả ngắm đu lé dơ!/ Bắu mi tắng năng khiêng/ Bắu mi khiêng năng bóm/ Bắu mi bóm năng phạk cang chan chên ló ai ơi!) (Sđd, tr. 323 – 324). Các chàng trai hát bài “Mượn điếu hút” (thuốc lào): “Anh đây cổ khàn muốn nhai vỏ chay (ăn trầu)/ Cổ thèm muốn hút thuốc Lào/ Điếu cày nhỏ khắc “rồng” vàng bọc của em đâu?” (Khuôn chai hư co khém é kin hát/ Co khát é kin quăn/ Tung quăn nọi xoi luông căm pok nhing đê) (Sđd, tr. 325). Các cô gái đáp lại; vẫn ẩn ý “thăm dò”: “Ống điếu sao anh chẳng mang theo?/ Ống hút sao anh chẳng mang cùng?/ Sao chẳng bảo “con” nhỏ đi cùng mang cho?” (Tung hiết chí lả chắng bắu pua ma pheng/ Tung kheng chắng bắu pua ma nẳng/ Chắng bắu hẳư lụk nọi pua toi ma lom lê ha?) (Sđd, tr. 325). Các chàng trai “bắt đầu” tỏ tình: “Ống điếu anh có mang theo thật mà/ Ống hút cũng có mang đi cùng/ Nhưng trên đường đi qua suối gập ghềnh/ Qua dòng nước, đá gồ ghề/ Trời nổi chớp lòe, anh ngã, điếu vỡ/ Được hút bằng điếu của người thương sẽ tan cơn đau đầu/ Được hút bằng điếu của người tình sẽ tỉnh cơn buồn ngủ” (Tung hiết pi lá cọ pua ma pheng tẹ na/ Tung kheng cọ pua ma nắng/ Hak va ma tang huổi hin cứp/ Tung ma huổi hin cáp/ Phạ plap lướm plap lộm hôi cón tek xia/ Đáy hiết tung quân peng chí xia xáng mau cẳu/ Đảy hiết tung quản nẳu ming chụ chí xia xáng mau non tẹ lọ) (Sđd, tr. 326). Các cô gái đưa điếu cho các chàng trai; vẫn “thăm dò”: “Đưa đóm bằng cây sậy, cả gốc/ Đóm cây bương, cả đốt/ Ống điếu nhỏ, tre gai, nõ bịt tro bế/ Anh hút chơi chút ít, chưa thể bỏ được/ Hút thuốc, hút hai hơi/ Hút thuốc, hút hai điếu/ Hút ba điếu/ Một điếu gửi tặng con sóc nhỏ trên cành bồ quân/ Một điếu gửi tặng con sóc to trên ngọn cây sấu/ Một điếu gửi tặng “vợ” yêu thương trong nhà/ Vì rằng một người hút, một người sẽ đòi/ Một dạ hút, một dạ sẽ than/ Hút thuốc chớ bỏ quên người vợ thương mủi lòng” (Ắn nị đín mạy ỏ tôm côốc/ Đín mạy hôốc tôm ta/ Tung quăn nọi xang nam pok tẳu/ Pi hiết ỉn lệch nọi nha lẳu mang xía/ Kin quăn chắng coi kin xoong hiết/ Hiết quăn chắng coi hiết xoong ngoi/ Chắng coi hiết xam ngoi/ Ngoi nưng mưa kháo họk pai kên/ Ngoi nưng mưa kháo lên pai củ/ Ngoi nưng kháo nẳu ming chụ mia minh cuông hươn/ Cọ pưa co nưng kin co nưng chí hoọng/ Toọng nưng kin toọng nưng chí chang/ Kin quăn nha vang xía nẳu mia khuôn mỏm mok le nơ!) (Sđd, tr. 327 – 328). Trai gái đã tìm ra “đối tượng” của mình; đêm cũng đã về khuya, nữ hát, ước hẹn: “Tay phải em nhấc guồng se sợi, nghỉ chăng?/ Rồi sau khi mặt trời xuống thấp, lặn mất, tối đêm/ Nếu đôi ta thương nhau hãy lại đến ngồi/ Đến cùng bạn Hạn Khuống ta chơi vui nhiều ngày, anh ơi!” (Khen khoa chọn chuông nay lá nhá lỏ qua/ Chơ lău vên tắm khẳu lựp phạ mưa mựt xia xeng/ Va xoong xương căn hựk chắng tẳu/ Tẳu huôm hạn ỉn khuống lai vên pi ơi!) (Sđd, tr. 329). Con trai hứa: “Khi ấy anh trở lại, về với cửa nhà/ Anh thưa câu chuyện kể cùng mẹ cha/ Hạn Khuống nọ, nam thanh nữ tú chung vui/ Con đã lên sàn vui cùng thiếu nữ/ Mắt nhìn thấy má đào xinh tươi/ Các cô xiêm áo lụa là, cúc bướm, vòng ngà…/ Con đã chung tình, đêm nằm tưởng nhớ, mẹ ơi!/ Lúc ấy mẹ cha tỏ ý mừng vui/ Con sắp xuống sàn, mẹ vội tìm cho chiếc áo mới/ Con sắp đi chơi với người thương, mẹ vội tìm cho chiếc khăn/ Anh được áo, ôm chạy liền/ Cầm áo, chạy đi/ Luồn rừng, cỏ cây rậm rì/ Xuyên rừng, lá rụng rào rào/ Đầu dính đầy cỏ, quả khô/ Đến gặp nhau nơi nhà người thương, rủ rỉ tâm tình” (Chơ nặn chai chắng cưn xú hươn ha dảo/ Uôn chắng tản xú chẳu me liệng têng po chom king/ Nắư khuông bôn báo xao muôn mua hưn hưn/ Luk chắng khửn hạt hạn lom mú xao ham/ Hén to bo do nhựa đeng lao kẻm mảy/ Hên to xỉn kéng xửa lái lụa chắp pém khen nga/ Lụk cọ chung thăng chụ non lăư phăn poóng me ơi!/ Mưa nặn me king pọm po king mụa muôn/ Chai chí lôông hươn me ếm peng chắng len xáo xửa/ Chí lửa tẳu phái nị me lả nhăng len xao khăn/ Há cọ ứm xứa lảy len lít/ Díp xửa đảy len liêu/ Tí pá nhả ma nhí nhắp/ Tí pá khắt ma nhí nhoọng/ Hua pên phoong mak nhả/ Chai chắng ma cộp căn nẳng hươn chụ tố ổ nắm nia) (Sđd, tr. 330 – 331). Con trai hát, vẫn có ý “thăm dò” nữa, và “thề”: “Anh xin hỏi mẹ nàng cùng cha kính có “mạnh tươi” tựa bông sen chăng?/ Chú thím, họ hàng, cô bác, gái trai, anh em ruột, bình an chăng?/ Còn “chồng” thương của em nữa, luôn mạnh khỏe chăng em?/ Giờ anh xin “trao” cùng em trọn nghĩa tình thương/ Anh hỏi em, thương cho hết mọi lời/ Hỏi em, cho hết mọi nhẽ, em nhé!/ Anh đây muốn “cai quản” nơi này, có nên chăng?/ Anh muốn trồng dâu nên khóm chăng em?/ Chẳng có hổ mang, rắn ráo đến ngăn đấy chứ?/ Không có “chồng” yêu nằm bên đâu chứ, em thương ơi?/ Nếu không có chồng nằm bên, anh quyết cùng em thành đôi/ Anh quyết cùng em thành cặp/ Không cưới được em, anh chẳng chịu thôi/ Nếu không lấy được em thành đôi/ Cha mẹ có cản ngăn, anh quyết “lăn” vào/ Cha mẹ cấm, anh càng quấn quýt/ Cha mẹ em chặt đứt thân anh thành hai, cũng mặc/ Anh coi tựa được nằm quan quách gỗ lim/ Dù chết vì em, đời anh không hề tiếc/ Anh ước mong cùng em dựng xây gia đình/ Ước mong được em về cùng lo toan, làm ăn/ Xin em thương đáp lại anh cùng!” (Chai xo tham ha po peng cắp me êm peng cọ coi du đi xương bok bua lao lok qua?/ Têng ao lua cá xum mu lung pá pi ok lả kéng noọng peng hẳ ư mết chu thoi/ Chí tham lả uôn noọng chu khót quam xương cón dơ!/ Khuôn chai ché púk phụk nắng bón nị chí pên báu lê?/ Chai chí púk mon nắng bón nị chí pên mú bắu lê?/ Bắu mi ngu sing sa ma phẳu cá lăư qua?/ Bắu mi nẳu phua ming non phéng xắng qua noọng lả ai ơi?/ Va bắu mi phua non phéng pí peng chí nặp cắp dệt cu đôi hả/ Pí chi nặp cắp lả uôn noọng dệt cu đôi xoong/ Bắu đảy peng ching bẳu nhá/ Bắu đảy lả uôn noọng dệt cu đôi xoong tẹ hư/ Po me hảm hua tắt pi lả chí khiên xó/ Po me hảm hua tó pi lả chí khiên păn/ Va po peng kéng me êm peng phăn khát xoong lang lẹo/ Xoong hau tai pôốc phôột mạy bôông lang mặc/ Pan láng đảy non lôông mạy lí/ Tai cắp lả chạt nị ching mắu mi xôông xăng na/ Khay nị côông tó peng pay téng hươn củ/ Cang tó kẻo uôn noọng pay téng hươn kin/ Xo tó uôn peng noọng co xai khan tóp pi dơ!) (Sđd, tr. 332 – 334). Con gái hát, “nhún” mình: “Giờ đây anh nói ra những điều mến thương/ Nhưng phần em phận nghèo hèn/ Mẹ sinh cha dưỡng qua năm nhiều mùa/ Cơm chiều bữa sáng không có chi, đói hoài/ Nhà nghèo khổ nhường ni chẳng ai ngó nhìn/ Anh người tốt, nói cùng em câu chuyện vui/ Lời trò chuyện cho qua cơn buồn/ “Vợ” thương của anh nệm chăn trải sẵn ngóng anh về/ Đồ toàn là lụa trắng toát, nằm chung hai người/ Gối chăn đặt sẵn thành đôi/ “Vợ” kề bên cạnh sao đành cách xa?/ Em đây xấu xí như quạ đen tuyền/ Có tai có mắt mẹ đành gắng nuôi/ Cơm ăn trộn báng, trộn nâu dối lòng/ Cha mẹ nuôi bằng củ mài, nên dốt nát/ Em đâu có xứng làm dâu nhà Tạo lớn/ Dọn xong cơm phải khéo mời/ Dốt nhường ni, đâu có xứng đôi?” (Ắn nị pi cảo tản cha tiện lai khót quam xương/ Khuôn eng noọng co xai cặt khốn/ Me ok chẳu po liệng lai khuốp mua pi/ Leng ngai chính bẳu xăng ứt xôông vang pựa/ Hươn cặt khổ tấc nị chinh bắu phăư le/ Pi peng hặc ban chăư pắc tô muôn mụa cợn lê/ Quam pak tán tô tiện hẳư xáng xia buôn lok qua?/ Mia khuôn ái pái pu xứa pha cong thả/ Phạ lón lụa coong pí non xoong/ Pha mon lang phiết pheng cu peng mon xọn/ Non tó ná cu xọn xư páy la xia lảy lê/ Noọng lả nị hư phú hại nhương cắm ca/ Mi hu ta mé êm peng lon liệng lok na/ Po me liệng kín khẳu qua pẳu qua lóng chăư tán/ Me peng liệng kin măn môốc phău chăư bắư/ Noọng lả hự bắu láng nả pên pặư hươn tạo nha luông/ La bôm pan phiết pheng cáo mơi xứ hụ/ Chụ lú bẳư tác nị chi láng hiêng xoong lắư lê) (Sđd, tr. 335 – 336). Nữ hát tiếp, đặt vấn đề “nghiêm túc”: “Nếu anh thực không chê em nghèo khổ, kém hèn/ Nặng vai anh lo lắng phụng dưỡng cả chú, cha/ Nhiều bề khốn khó nặng nhọc lắm, anh ơi!/ Nếu chẳng chê em, có thể sánh đôi thực lòng/ Anh hãy về thưa với mẹ cha, cô chú, anh em…/ Gặp nhau bàn bạc nhất tâm, đồng lòng/ Không chê em nghèo/ Rồi anh tới trả lời, đổi trao/ Nếu có điều chê bai, ta hẵng chia xa, anh ơi!” (Va pi peng nhăng bắu chê cặt cung khôm hạy/ Lạy choóng khúm kháng dượn têng ải ok ao/ Lai khu chí khó chăư khốn king cung nựa pi ơi!/ Va bẳu tỉ chê noọng xôm cu hiêng xoong tẹ hứ/ Keng pay tham po peng kéng me êm peng ok ao pi têng noọng/ Xum xó nả to tiện quam nưng chăư điêu/ Va bắu chê uôn nhing côn hạy/ Pi chắng táu tép noọng quam ố năm nia/ Va lái khu chỏm che xoong hau chảng chói hang căn dú côn phương phạ, pi ơi!) (Sđd, tr. 337 – 338). Nam trả lời: “Bây giờ anh đáp lại nàng nghe nhớ giùm cho!/ Tối qua vừa mới đổi trao nhiều điều/ Mẹ cha, anh chị em, cô bác, đông người/ Ai cũng nói một lời muốn, mong/ Nếu anh cưới được em, xây dựng gia đình/ Cửa nhà ấm êm, mọi người tựa, nương/ Mẹ dạy bảo việc nhà hãy nghĩ, liệu lo/ Sao cho no đủ miếng ăn, hãy gắng làm/ Lợn gà nuôi thiến, con to nhiều đàn/ Trâu bò ngựa, cùng nhiều vật nuôi/ Lo được vậy, cửa nhà ung dung/ Em nghe lời mẹ thì cha vui lòng/ Gia đình no đủ, cả vùng ngợi khen, thương ơi!) (Sđd, tr. 339 – 340). Được lời, nữ hát “đã xin ý kiến cha mẹ”: “Mẹ ơi! Con mẹ nói vui đùa ở Hạn Khuống tuần 20/ Thấy toàn trai phương xa mường khác tới tụ/ Có một chàng Tạo (quý tộc) thường thủ thỉ bên con/ Chuyện trò qua lại “quấn” thành tình yêu, mẹ ơi!/ Nói ra những lời ngọt ngào trăm câu/ Đáp chàng, con cũng ngọt ngào tâm sự/ Cha sinh mẹ dưỡng nghĩ sao việc này?/ Xin cha luận ý đáp lời bảo con, thưa cha!” (Me êm ơi! Lụ mưng cọ lảy pák ỉn muôn mụa ná khuống bươn xao/ Hên to báo táng phương táng mương ma hặu/ Hên tó chẳu pi tạo pák tản nắm nia/ Tố pay ma in yêu niếu chuôn pên chụ me ơi!/ Xương pák tản nho nhoọng họi khót quam ban/ Lụk mưng cọ khan quam ban xắư ái pi tạo/ Po ok chẳu me liệng chí ngắm ba xư/ Xo po peng cáo cha tóp quam uôn nọi, po ơi!) (Sđd, tr. 341). Cha mẹ hỏi con gái: “Cha hỏi kỹ lại, rồi mẹ đáp lời/ Chỉ e chàng “dối” chuyện cho qua lúc buồn/ Làm thân con gái thêm phần sầu đau, đấy chăng?/ Con xin thưa lại mẹ cha tỏ tường/ Anh ấy thương con, hẹn ước hết lòng/ Ngọt ngào cha mẹ xem bề lòng vui/ Đắn đo suy nghĩ, đẹp đôi nên chăng?/ Đến đây lo việc cửa nhà ruộng nương/ Xin làm con rể, gắng công đáp đền, thưa cha!/ Em trình cha mẹ thuận tình ưng cho/ Nếu chàng không chê em nhà nghèo túng/ Hãy nói cùng cha mẹ của chàng tới đây/ Đôi bên hai họ gặp nhau giãi bầy” (Po chắng tàn tham vậu me tóp quam ban/ Dản to tàn pak bẻo lưa lạ lìn xáng xia buôn lok qua/ Pa uôn khoỏng cung chăư xen poóng xư lê?/ Lụk chắng tán cắp chẳu me liệng po ok tăn dám/ Pi peng măn hak chao xút luông tô ổ/ Po ok chẳu me liệng khan tóp quam ban/ Chí khan pên hẳư ma pheng tiêm cu báu lê/ Ma dú xảng la dượn na hay khơng lo/ Xo dệt khươi téng tăm pun dượn, po ơi!/ Noọng cọ tố xẳư ải me liệng chóm muôn quam li/ Va bẳu chê tỷ hươn khôm hạy tẹ hư/ Pay bok chẳu po liệng me ok xău ma/ Chá quam ban xú căn chu luông li hại) (Sđd, tr. 342 – 343). Nam hát, “xin bố mẹ đi hỏi con dâu”: “Bấy giờ anh mừng vui bày tỏ nỗi niềm/ Anh đi tìm kiếm nơi nương tựa, dựng xây gia đình/ Thưa cha cùng mẹ nghe con tỏ bầy/ Con cùng em ấy tâm sự với nhau/ Đôi bên tính kỹ, suy sâu, hiểu tìm/ Se duyên hai đứa thành đôi vợ chồng/ Nghe con cha mẹ vui lòng liệu, lo/ Kiếm tìm quà nhỏ, bánh ngọt kèm theo/ Rời nhà rảo bước rủ cùng nhau đi/ Đi đến bên kia gặp đàng nhà gái/ Tỏ lời xin hỏi, tính kỹ điều hay/ Xin hỏi bên ngoại, ông bà nghĩ sao?/ Hãy thương đôi trẻ, cho nhà trai vui cùng/ Nếu thương hai đứa, cho thành đôi, thực lòng” (Chơ nặn chai cọ mơng chăư pọm quam ban lại khót/ Pi luốn tặu ha pựn hươn dảo ún ing/ Po king ới, me king phăng thí li dơ/ Lụk cắp noọng tố ổ xú căn/ Pưa va xoong phương pọm cha quam thỏi thí/ Chi xú hẳư xoong nọi pên cú đôi xoong/ Chơ nặn têng êm ải mơng chăư lo áo/ Xọk xáo đảy lệch nọi pẻng béng căm ban/ Lôông hươn pọm pa căn đơn páy/ Pay họt hoỏng phái pựn bướng mảng lung ta/ Chắng cha quam cáo tham chu luông li hại/ Ta hặc lả nai chựa hău ngắm xứ lăư/ Xo quam ban in xương ón peng xoong nọi li dơ/ Va hặc uôn nọi khuôn cu đối xoong tẹ hư?) (Sđd, tr. 344 – 345). Nữ hát “cha mẹ bên gái cũng đã ưng thuận”: “Cha mẹ bên em ngỏ ý, đáp lời/ Nếu không chê chúng tôi nghèo túng/ Sẽ cho hai trẻ tác thành gia/ Se duyên hai đứa nên đôi vợ chồng/ Cha già không khỏe mãi/ Mẹ già không mạnh luôn/ Mong ăn rổ rau xanh/ Mong nhờ sức rể út/ Mong ăn nhờ giỏ cá anh vũ của rể cuối/ Khuyên hai con gắng sức, lụng làm/ Sao cho bằng người, cửa nhà đầy đủ/ Và cha mẹ đôi bên được cậy nhờ/ Hãy siêng làm lụng sau này khấm khá, con ơi!” (Ta nai lẹo khan quam tản tứm/ Va bắu chỉnh chê hại hươn dảo khó cặt tẹ hư/ Chí păn hẳư pên lôi xôm xéng/ Ban béng hẳư xoong nọi pên cú đôi xoong/ Po thẳu po bắu heng/ Me thẳu me bắu heng/ Chăư kin xạ phắc xeng/ Chăư kin heng khươi lả/ Chăư kin xạ pa bá khươi lun/ Têng xoong nọi dượn choóng chện lỏ/ Hẳư pék chẳu pi noọng hươn dảo xáng bang/ Têng êm ải xoong hươn cay tó/ Coi choóng dượn mưa nả xáng bang, lụk ơi!) (Sđd, tr. 346 - 347). Cuộc hát Hạn Khuống đã về khuya, đã đến lúc chia tay: “Khuya, đêm khuya đến rồi/ Đêm khuya khoắt đến rồi/ Con tắc kè đã dậy thức kêu/ Ở dưới nước, vực sâu, con cá đã ngủ rồi/ Ở dưới ruộng, con bà mụ và nòng nọc đều ngủ rồi/ Đống mối kia có rắn cũng ngủ rồi/ Đỉnh núi kia có chim én cũng đã ngủ rồi/ Mỏm đồi kia có “rồng” cũng đã ngủ rồi/ Con có vòi có ngà, voi cũng ngủ rồi/ Con có sừng cong, trâu đã ngủ rồi/ Con có sừng vặn, dê cũng ngủ rồi/ Con õng ẹo chiều tối, nai đã ngủ rồi/ Khóm tre nhỏ có vượn, rúi, tê tê đã ngủ rồi/ Không ngủ chỉ có loài chim bói cá to và nhỏ/ Đêm nó đi mò cá kiếm ăn dưới nước, vũng sâu/ Nó ở giữa ruộng, ngoài đồng/ Mắt đôi ta không thi thố được cùng mắt chúng/ Giờ đây lửa đã tắt thành than hoa/ Lửa đã tàn thành than đen nhọ nồi/ Cụ già nơi đây đã ngủ say giấc rồi/ Đi ngủ thôi, giấc nồng “12  xà tích” của ta ơi!/ Giấc ngủ nhỏ “12 lớp đệm” đang mong về/ Chiếc vỏ chăn ngóng trông/ Chiếc màn lụa sặc sỡ đang chờ căng/ Sớm mai còn phải đi nương cùng cô/ Còn phải đi ruộng cùng chị/ Còn phải sánh bạn đi nhặt bông nữa, thương ơi!” (Đức tam đức ma lỏ/ Đức tam đứn ma lỏ/ Đức đứn lẹo keng kẻ tứn khăn lẹo lỏ/ Tô dú nẳng năư nặm băng lậc tô pa cọ non/ Tô dú nẳng năư na tô niểu kéng khụa cọ non lẹo lỏ/ Chom pụak hẳn mi ngu cọ non/ Chom pu hẳn mi én cọ non/ Chom ten hẳn mi luông cọ non/ Tô mi nguông mi nga tô chạng cọ non/ Tô xảng côống tô quai cọ non/ Tô cang lai tô bẻ cọ non/ Tô éng ẻ têng căm tô quang cọ non/ Xum xang nọi mi căng ổn lin cọ non/ Nhăng báu non to nôộc sen hỏm cắp nôộc sen lắng/ Căm măn pay dắng nặm băng lậc kin pa/ Dú nẳng cang na phẳu tôông/ Ta phủ xoong hẳu bắu kheng ta măn lảy/ Kháy hư phay mọt pên thán lai/ Phay tai pên thán lăm mỏ mỉ/ Thẳu ké nỉ non lắp lua lỏn lẹo lỏ/ Pay non lỏ qua lua non xíp xoong xói ha ơi!/ Lua non nọi xíp xoong phả lóp xửa coong ha/ Phả lóp pha coong thả/ Phả dắn lụa khảm khép coong cang/ Hung ma thứk pay hay lom a/ Thứk pay na lom ưởi/ Thứk kếp phải xượt xượi lom cu lô liêu mắư na peng ơi!) (Sđd, tr. 348 - 351). Nam hát bài “giã biệt”: “Mạnh khỏe nhé, chàng trai, cô gái bông sen của ta!/ Ở lại nhé, Hạn Khuống nhỏ bốn bề phên đan!/ Đan kỹ bốn góc tựa đan rá/ Tấp nập gái trai xum vầy/ Giờ đây gái đã lớn sẽ cuộn chăn mẹ đi rồi/ Gái trưởng thành sẽ chung chăn tình cùng chồng/ Còn lại lớp trẻ đàn em/ Tối qua “tập diện” vào, xuống sân/ Trời không mưa, chớ bỏ sàn ta vắng lặng/ Trời không mây, chớ bỏ sàn ta mốc meo/ 10 đêm, hãy có trai phương xa gẩy đàn môi đồng đến chơi/ Ta đây, thóc đã đổ bồ, không trở lại được cùng thóc đống/ Soạn đồ đạc về nhà chồng, không còn trở lại vui chơi được nữa rồi!” (Coi dú li dơ, báo bua hỏm kéng xao bua ha cuông bản/ Coi dú li dơ, hạn khuống nọi xí pích xan tăm/ Xan tăm xan xí che hăm pựn/ Hưn hựn báo xao tom/ Pặt ma khay nạy xao luông lẹo chí khẳu pha me xia lỏ/ Xao thẳu lẹo chí khẳu pha chụ hôm phua xia lỏ/ Nhang tó xao pan lun pun noọng/ Choọm hing doỏng lôông khuống căm ngoa thôi na/ Phôn bắu tôốc nha vang xia khuống hau xẳu/ Phạ bắu xẳu nha vang xía khuông hau moong xăng nơ!/ Xíp căm hẳư mi báo tay cay tói hưn toong ma hẳu/ Ắn ha nị khẳu xắư lẳu chí bắu cưn ma kiểu kéng coong/ Hom khoong khửn hươn phua chí bắu cưn ma lứa lẹo lỏ!) (Sđd, tr. 351 – 352). “Hãy nhớ lấy buổi giao duyên đêm nay, hãy nhớ lấy Hạn Khuống của ta!”, nam hát: “9 sẽ quên và 10 sẽ quên/ Chờ cây hẹ mọc cành lá hẵng quên/ Chờ khóm sả ra hoa hẵng quên/ Ống bương biết vào triều chầu vua hẵng quên/ Tóc trên đầu quên búi hẵng quên nhé!/ 9 sẽ quên và 10 sẽ quên/ Chờ sông Mã cạn bằng chiếc đĩa hẵng quên/ Sông Đà khô bằng chiếc đũa hẵng quên/ Cá bống lượn đớp sao hẵng quên/ Cát trắng “lượn” ăn sương mù hẵng quên/ Chim sẽ “ăn” vườn mía hẵng quên nhé, tình thương ơi!” (Cẳu chí lưm cắp xíp chí lưm/ Thả to tổn xlẹp pôống nga chắng lưm/ Thả to xum khing chăư ok bok chắng lưm/ Choóng choọc hụ pay púa chău pua chắng lưm/ Phôm dú hua lưm cẳu cháng lưm nơ!/ Cẳu chí lưm cắp xíp chí lưm/ Thả nặm ma héng to le chắng lưm/ Nặm te héng to thú chắng lưm/ Pa bú dón kin đao chắng lưm/ Xai khao dón kin moók chắng lưm/ Nôộk chọk phạ kin ỏi thoóng xuôn chắng lưm nơ, peng ơi!) (Sđd, tr. 353 - 354).

3. Nhiều đôi trai gái Thái đã thành vợ thành chồng sau những đêm giao lưu và hát Khắp ở Hạn Khuống. Hạn Khuống, tạo ra và lưu giữ những bài dân ca Thái độc đáo về tình yêu, mà ở trên chúng tôi mới chỉ giới thiệu được một phần. Điều đó đồng nghĩa với việc, Hạn Khuống là một nét văn hóa dân tộc cần lưu giữ và phát huy. Ngày nay, ở một số nơi, sinh hoạt Hạn Khuống đã trở thành Lễ hội (8). Và Hạn Khuống đã trở thành “Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” (9).     

Chú thích

(1) Cầm Biêu (1998), “Vài lời giới thiệu về sinh hoạt Hạn Khuống của người Thái”, in trong cuốn Văn hóa và lịch sử người Thái ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội., 1998, tr. 548.

(2) Quang Huy (2006), “Hạn Khuống giao duyên”, in trên báo Khoa học và đời sống, - Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi, số Xuân Bính Tuất 2006.

(3) Lường Hương (2018), “Da diết những bản tình ca trong Sàn hoa Hạn Khuống của dân tộc Thái”/ https://www.dienbientv.vn/tin-tuc-su-kien/van-hoa/201803/da-diet-nhung-ban-tinh-ca-trong-san-hoa-han-khuong-cua-dan-toc-thai-5573382/

(4) Lê Bá Liễu (2003), “Đêm nẳng huổng”, in báo Văn hóa, chuyên đề Dân tộc và miền núi, số ra ngày 15/5/2003.

(5) Quán Vi Miên (2006), “Hạn Khuống”, in trên Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, Hà Nội, số 7 (129) - 2006, tr.47.

(6) “Hạn Khuống của người Thái - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”/ https:// dan tocmiennui.vn/han-khuong-cua-nguoi-thai-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia/ 165 388. html

(7) Nguyễn Văn Hòa (2001), Truyện cổ và dân ca Thái vùng Tây BắcViệt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, tr. 313 – 314. 

(8) “Lễ hội Hạn Khuống tại Lai Châu” (Thời gian: 1/11- 30/11 Âm lịch hàng năm)/

http://lehoi.info/lai-chau/le-hoi-han-khuong-tai-lai-chau-gv.

(9) Theo Chú thích (6) ở trên.

Tài liệu tham khảo

(1) Lường Hương (2018), Da diết những bản tình ca trong Sàn hoa Hạn Khuống của dân tộc Thái/ https://www.dienbientv.vn/tin-tuc-su-kien/van-hoa/201803/da-diet-nhung-ban-tinh-ca-trong-san-hoa-han-khuong-cua-dan-toc-thai-5573382/; truy cập ngày 14/3/2018.

(2) Tô Ngọc Thanh (2002), Âm nhạc dân gian Thái Tây Bắc, Nxb Âm nhạc, Hà Nội. 

(3) Thế Vinh (2017), “Hạn Khuống - nét văn hóa đặc sắc của người Thái”/ http://dai doanket.vn/han-khuong--net-van-hoa-dac-sac-cua-nguoi-thai-383203.html; truy cập ngày 20/10/2017.

(4) “Hạn Khuống của người Thái - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”/ https://dan tocmiennui.vn/han-khuong-cua-nguoi-thai-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia/ 165 388.html 

(5) “Lễ hội Hạn Khuống tại Lai Châu” (Thời gian: 1/11- 30/11 Âm lịch hàng năm)/ http://lehoi. info/lai-chau/le-hoi-han-khuong-tai-lai-chau-gv


Cùng chuyên mục