Quay lại

Qụa thần

Quán Vi Miên  |   12/1/2024

1. “Theo truyền thuyết thì sự xuất hiện của Mường Noọc gắn liền với nhân vật có tên là Lo Ỳ, nguyên là dòng dõi Hoàng thân của Kinh đô cổ của nước Lào ở Luông Pra Băng. Sau khi bị em trai tên là Lo Ài vì muốn chiếm ngôi vua của anh đem lòng ganh tị, ngầm giết chết người anh cả rồi vứt xác xuống sông.

 Xác của Lo Ỳ trôi xuôi theo dòng sông Mã đến địa phận huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), xác Lo Ỳ vướng vào một gốc cây rồi được một con quạ cứu sống bằng liều thuốc thần. Thời đó người Thái ở vùng này đã đông đúc nhưng chưa thành Mường và chưa có Tạo(1), nên Lo Ỳ được dân mời ở lại và tôn lên làm Tạo. Lo Ỳ đặt tên Mường mới là Ca Gia (Mường Quạ cứu vớt) để ghi nhớ công ơn con quạ đã cứu sống mình. Từ đó Mường Ca Gia ngày một hưng thịnh, đời sống yên vui. Tuy nhiên vì nỗi nhớ quê cha đất tổ luôn canh cánh bên mình, nên khi Mường Ca Gia đã hưng thịnh, Lo Ỳ bèn xin phép dân trong Mường trở về quê cũ thăm cha. Trên đường đi, Lo Ỳ bị lạc vào vùng Miền Tây Nghệ An. Thời đó cư dân Thái vùng này đã đông đúc, nhưng vẫn chưa có Tạo, chưa lập Mường. Thấy Lo Ỳ khôi ngô tuấn tú nên dân trong vùng nài xin Lo Ỳ ở lại làm Tạo. Cảm kích trước tấm lòng của muôn dân, Lo Ỳ đã nhận lời ở lại. Ông lập ra Mường mới lấy tên là Mường Tôn (mường gốc) với trung tâm là Bản Đon Cơn. Bản Đon Cơn ngày càng đông đúc, con cháu dòng họ Lo ngày một đông. Lúc này một chi của họ Lo tách ra lập Bản mới ở Đon Cham; một chi khác tách ra lập một Bản mí ở Piêng Chảo. Chi ở Bản Piêng Chảo ngày càng hưng thịnh rồi tự lập ra một Mường mới lấy tên là Mường Noọc (mường ngoài của mường gốc là Mường Tôn). Do địa thế thuận lợi, Mường Noọc ngày càng trở nên hưng thịnh, thế lực ngày một mạnh và cuối cùng trở thành trung tâm của cả vùng, con cháu đời đời làm Tạo, thế tập truyền được 17 đời. Cùng với việc xây dựng đền 9 gian trên đỉnh núi Pu Quai để thờ Then Phạ (thờ trời), họ Lo Căm (Lò Vàng) nắm cả vương quyền lẫn thần quyền. Một mặt chúa Mường Noọc chăm lo củng cố bộ máy quản lý trong Mường, sắp đặt hệ thống chức dịch, cơ cấu tổ chức hành chính từ trên xuống dưới, đặt ra luật lệ để bảo vệ quyền lợi của dòng họ chúa Mường; mặt khác từng bước mở rộng phạm vi ảnh hưởng và bành trướng thế lực của mình; cắt cho Lo Căm Lạn làm chủ và “ăn”  Mường Chiêng Ngam thuộc Quỳ Châu; cho Lo Căm Tán (sử cũ thường gọi là Cầm Tán) làm chủ và “ăn” Mường Khủn Tinh, Mường Choọng thuộc Quỳ Hợp… Chính những con cháu của dòng họ Lo Căm sau này khi trở thành Chủ Mường kiêm chủ đất cai quản hầu hết các Mường nhỏ ở khu vực Phủ Quỳ. Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, địa dư của Mường Noọc bao gồm cả một vùng lòng chảo rộng lớn của huyện Quế Phong ngày nay với diện tích khoảng 850 ha. Nếu tính cả khu rừng thiên nhiên thì địa giới của Mường Noọc ước tính gần 40 km2 , bao gồm nhiều Mường nhỏ bị thần phục. Với tư cách là Mường trung tâm, xung quanh Mường Noọc thời ấy có 8 Mường nhỏ lệ thuộc là: Mường Mưn, Mường Chừn, Mường Hin, Mường Quàng, Mường Cọt (Quế Phong), Mường Chiêng Ngam, Mường Miễng (Quỳ Châu), Mường Ham (Quỳ Hợp). Hàng năm 8 Mường trong vùng mỗi Mường đều phải nộp 1 con trâu đen, riêng Mường Tôn (mường gốc) nộp trâu trắng để làm lễ tạ ơn Then Phạ (thờ trời), tục gọi là Xơ Pu Quai (đền đồi hiến trâu)”… (2). 

Hình ảnh quạ trong văn hóa Triều Tiên, Ảnh nguồn cand.com.vn
2.
“Xưa kia đền nằm ở đỉnh Pù Vai Nhàng gọi là Tến Pỏm thuộc bản Khoẳng (Châu Kim). Nhưng rồi một năm, trước ngày cúng, người ta đang cho trâu tắm tại một con suối thuộc sông Nậm Giai thì bỗng nhiên con trâu đầu đàn biến mất. Tìm mãi không thấy, đồng bào làm lễ “khài then”. Khài vừa xong, trên không một tiếng sét nổ vang trời. Ngay lúc đó, chỗ bà con tắm trâu nổi lên một hòn đá. Hòn đá tự nhiên nứt đôi. Giữa lúc đó lọt ra một con trâu bạc. Đồng bào lại khài then rồi mới đem trâu bạc làm thịt. Khi làm thịt trâu, một con quạ khoang ở đâu bay tới, sà xuống, ngậm một khúc xương, bay sang bản Piếng Chào, đậu tại Pù Căm. Bà con biết rằng, Then không muốn ở Pù Vai Nhàng nữa mà muốn về Piếng Chào, nên liền dời đền Chín Gian từ Pù Vai Nhàng đến Pù Căm… (3).
3.
“Từ khi họ Lo Căm cho xuống “ngồi” (4) Bản/ Chủ Căm Lạn xuống “ngồi” Pu Quai/ Em trai thứ xuống “ngồi” đền Choọng/ Em út quản Mường Luộc - Chiềng Van (5)/ Em gái thứ xuống “ngồi” đền Chai/… Lo Ài xuống ngồi quản/ Lo Ỳ xuống “ngồi” Mường/ Lo Căm là chúa là chủ Tày Dọ (6)” (7)… thì đời sống kinh tế, văn hóa xã hội trong vùng dần dần phát triển và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Một trong những nét văn hóa đó được duy trì trong tang lễ Thái, nhất là đối với dòng họ Chủ Mường này. “Bố Bôn (8) mới “thả” cây về/ Bố chủ mới trồng cây xuống/ Trồng cả cây quế và cây vông/ Hai bên trồng cây gạo/ Một bên trồng cây Chơ Pháy/ Còn nữa trồng cây dâu cứng/ Trồng từ cây Chơ Bà gỗ tốt/ Cứng hơn cả sừng trâu/ Còn lại trồng cây Bà Đửa/ Trồng từ cây Lướng Ẻn làm hòm/ Then trồng cho họ Lo Căm làm mả/ Trời sắp đặt cho làm hòm nhiều họ/ Thế nên cây Mai ở Mường Piêng (9) thường không để lại/ Cây tre và cây Mét làm đòn khiêng/ Cây Quắn và cây Cân để làm cờ phướn/ Cây cau dài để làm cây Tồn Cảo (10) dựng ở nơi cửa rú mồ/ Quả nó Then “thả” xuống người trần gian “nhuộm” miệng/… “Thả” cây giang để làm (đan/kết) ve sầu có cánh dày/ Quạ đen - con cánh cháy/ “Thả” từ cây Tắng Bờ mùa gió hanh xuống làm lễ hội…” (11). “Gốc Cảo hoa, ngọn Cảo trang trí (tang lễ)/ Treo Ngoạng (ve), ve sầu, và quạ…/ Ve sầu không có mắt/ Quạ không có trứng/ Nan tre đan làm "vật đám ma"/ "Vật quý" chủ Lo Căm qua đời”… (12). Ở đây ta lại gặp “con quạ”. 

Hình ảnh con quạ trong văn hóa Ấn Độ, Ảnh cand.com.vn
4.
“Con quạ” đối với người Thái - họ Lo Căm, trở thành “vật tổ - totem”. Họ kiêng bắn giết quạ, kiêng ăn thịt quạ. Trong tiếng Thái, “con quạ” gọi là “tô cá”. “Cá đăm” là “quạ đen”. “Cá căm” là “quạ vàng” (mỏ vàng). “Cá léo”, thì từ “léo” chỉ “mắt trong, sáng, có thể cảm nhận được cả tia nhìn của nó”. Thành ngữ “như ‘cá léo cá lên’” thì cũng ý ấy. Trong quan niệm của người Thái - họ Lo Căm, “quạ” không phải là một con vật bình thường, nó là “con quạ thần”.          
 
Chú thích
(1). Con trai quý tộc.
(2). Vi Văn An (1999), “Thiết chế bản - mường truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An”, Luận án Tiến sỹ sử học, tr. 64 - 165.
(3). Ninh Viết Giao (2003), Địa chí huyện Quỳ Hợp, Nxb Nghệ An, Vinh, tr. 439.
(4). Cai quản.
(5). Thuộc huyện Thường Xuân - Thanh Hóa.
(6). Cũng gọi là “Tày Mường”, một nhóm Thái ở Nghệ An, đông nhất trong số người Thái ở Nghệ An.
(7). Quán Vi Miên (2010), Tang lễ của người Thái ở Nghệ An, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 278.
(8). Cũng gọi là Then (ông trời).
(9). Mường Bằng, chỉ trần gian.
(10). Cũng gọi là “cây hoa”; các nhà nghiên cứu gọi là “cây vũ trụ”.
(11). Quán Vi Miên (2010), Tang lễ của người Thái.., Sđd, tr. 278 - 279.
(12). Quán Vi Miên - Vi Văn Thắng (2022), “Nghi lễ ‘páng chuộc, nhó bún’ của người Thái vùng Khủn Tinh, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An”, bản thảo chưa xuất bản, tr. 40.
Tài liệu tham khảo
(1). Lê Hải Đăng (2014), Nghi lễ gia đình của người Tày Mường ở Nghệ An, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 
(2). Sigmund Freud (2000), Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo (vật tổ và cấm kỵ), Đại học Quốc gia Hà Nội. 
(3). Chu Thái Sơn (chủ biên), Cầm Trọng (2005), Người Thái, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, tr. 134 - 142.
(4). E.B.Tylor (2019), Văn hóa nguyên thủy, do Huyền Giang dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr. 437 - 889.


Cùng chuyên mục