Quay lại

Về những dòng họ có nhiều đóng góp trên lĩnh vực bang giao ở Việt Nam thời quân chủ

Đào Tam Tỉnh  |   10/1/2024

Nhà Sử học Phan Huy Chú trong sách Lịch triều hiến chương loại chí Q. XLVI, mục Bang giao chí có viết: “… Bởi vì thanh danh đã rạng tỏ, phong khí ngày một mở mang, văn vật ngày một mới mẻ, nên thượng quốc phải coi trọng, phong cho danh hiệu vẻ vang, (khác nào như) được ngôi Bắc thần đoái đến. Còn như khi sứ giả đi lại thì có lễ tiếp đãi, bờ cõi hai nước thì có văn thư biện bạch, đó là việc đều có quan hệ đến quốc thể và lân giao. Nếu không có tài trị nước thì sao thấy được phong hóa của Trung Hoa, cho nên những lễ nghi ứng đáp của các triều, cần nên xem rộng xét kỹ…”(1).

Ông đã chia việc Bang giao ra 4 mục: Điển sách phong, Lễ cống sinh, Nghi thức tiếp đãi; Việc biên cương thành các chuyên mục cho khoa học, đầy đủ, dễ nhận thức hơn theo các sự việc, sự kiện diễn ra mà sử sách nước nhà thời quân chủ từng để lại. 
 Bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí đã góp phần giúp chúng ta nắm bắt được tình hình và công lao của những người được cử đi Sứ, từ đó có thể biết về các dòng họ có nhiều đóng góp trên lĩnh vực Bang giao các thời trước. Đồng thời cần nghiên cứu các sách lịch sử và tài liệu khác viết về Bang giao các thời cho đến Cách mạng tháng 8 thì mới tổng hợp được đầy đủ công việc Bang giao và những người đã nhận trọng trách Sứ thần. Với tiêu đề mà Ban tổ chức Hội thảo KH đã đề ra trong khuôn khổ về các dòng họ có nhiều đóng góp trên lĩnh vực Bang giao thời quân chủ là rất rộng, khó có thể viết hết, nên chúng tôi sẽ cố gắng nghiên cứu theo mục tiêu là các dòng họ có nhiều người, nhiều đời nối tiếp đi sứ, có nhiều đóng góp như dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần, Nam Đàn là chính, còn dòng họ, gia đình có một người, có ít đời đi sứ thì cho phép chúng tôi được giới thiệu chung trong một khung cảnh Bang giao chung của nước nhà.
I. Khái quát chung về sự nghiệp Bang giao của nước ta thời Quân chủ
Việc Bang giáo với Trung Hoa của nước ta đã có từ thời Hùng Vương, nhưng chưa được Trung Hoa coi trọng. Phải đến thời phong kiến quân chủ, đặc biệt từ thời Đinh - Tiền Lê thì Trung Hoa không còn dám coi thường quan hệ ngoại giao và các cuộc giao lưu tiếp xúc với Sứ thần nước ta với họ. Chứng tỏ các triều đình nước ta đã vững mạnh, đã ở thế độc lập tự chủ, có thể ngang ngửa sánh vai cùng các triều đình Trung Hoa tồn tại phát triển. Lê Đại Hành đã cử Ngô Quốc Ân (985), rồi Giang Cự Vọng và Vương Thiên Tộ sang sứ Trung Hoa. Khi sứ Trung Hoa sang, vua đã ngồi trên ngựa (lấy cớ chân đau không xuống ngựa được), miệng bỏm bẻm nhai trầu (lấy cớ là phong tục nước Nam vậy) để đón tiếp Sứ mà Trung Hoa không dám trách cứ vào đâu được. Vua Lê cũng đã cử Từ Mục và Ngô Tử Cảnh đi sứ Chiêm Thành (Lâm Ấp)… Ngoại giao đã trở thành một công việc hết sức quan trọng giữa nước ta với Trung Hoa và các nước lân bang khác. Sang triều Lý, năm 1078 Đào Tôn Nguyên được cử sang nhà Tống… Đặc biệt thời Trần thì việc bang giao đã không thể thiếu trong quan hệ nước ta với nhà Nguyên. Nhà Nguyên sai nhiều Sứ thần sang ta với thái độ rất hống hách đòi vua Trần phải sang Triều phục và dâng không nước ta cho chúng. Nhà Trần đã kiên quyết với nhà Nguyên đến mức giam Sứ thần lại tại Thăng Long làm con tin và tổ chức kháng chiến 3 lần đánh cho chúng phải thất bại tơi bời. Các triều vua Trần liên tục cử các Sứ đoàn sang Trung Hoa: Năm 1275 là Lê Đà, Đinh Củng Viên; 1276 là Lê Khắc Phục và Lê Túy Kim; 1277 là Chu Trọng Ngạn, Ngô Đức Thiệu, Trần Di Ái, Đỗ Khắc Chung; 1282: Trần Di Ái, Lê Tuấn, Lê Mục; 1285: Nguyễn Nghĩa Toàn, Nguyễn Đức Vĩnh, Đoàn Hải Khung, Nguyễn Văn Ngạn, Nguyễn Đại Phạp, Hà Duy Nham; 1288: Đỗ Thiên Thu; 1290: Đinh Giới; 1293: Đào Tử Kỳ, từ đó, Nguyên triều với nước Nam thông hòa, không gây ra cuộc binh đao nữa; 1299: Đặng Nhữ Lâm; 1308: Mạc Đĩnh Chi; 1322: Doãn Bạng Hiến; 1346: Phạm Nguyên Hằng Chiêm; 1368: Đào Văn… 

Dòng họ Hồ Quỳnh Đôi - Quỳnh Lưu

Các Sứ thần triều nhà Trần, phần đông đã lập được nhiều công trạng, đã làm cho người ngoại quốc đã phải kính phục, tiêu biểu như: Đỗ Khắc Chung, Đinh Củng Viên, Phạm Sư Mạnh và Mạc Đĩnh Chi…
Nhà Hồ, Hồ Quý Ly bỏ Thiên đế (1398-1400), rồi tự xưng là đế, đặt Quốc hiệu là Đại Ngu, chưa được 1 năm trời thì nhường ngôi cho con thứ là Hán Thương (1401-1407), rồi làm Thái Thượng Hoàng để cùng coi việc nước. Nhà Hồ cho Sứ giả sang nhà Minh nói dối vì dòng dõi nhà Trần không còn người nào nữa cho nên cháu ngoại lên thay thế quản lý việc nước. Các nhà chí sĩ đã phản đối vua Hồ, thờ họ Trần đứng dậy ngấm ngầm chống lại, cho một phái đi nhờ ngoại viện là Bùi Bá Kỳ và Lê Cảnh Tuân… 
Nhà Minh lấy cớ phục hồi nhà Trần đã cho quân sang xâm lược nước ta. Nhân dân ta lại một phen nổi dậy dưới cờ đại nghĩa của Bình Định vương Lê Lợi, tổ chức kháng chiến, quyết đánh đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi. Quân sư Nguyễn Trãi thừa lệnh Bình Định vương đã thảo nhiều bức thư ngoại giao kêu gọi các tướng Minh chỉ huy các đồn các nơi lần lượt đầu hàng, Vương Thông lập đàn thề ở phía Nam thành Đông quan, hẹn đưa toàn quân rút về nước. Lê Lợi sai Lê Thiếu Dĩnh, Lê Quang Cảnh và Lê Đức Huy đem tờ biểu và phương vật sang sứ nhà Minh, đưa sổ ghi danh các quan quân, nhân mã đã bị bắt đem trả lại Minh triều. Từ đấy nước ta lại mở một cuộc bang giao hòa hảo như thường lệ và 3 năm lại phải mang phương vật sang cống hiến một lần. Nhiều Sứ giả Việt Nam khi sang sứ đã tỏ ra có một năng lực đặc biệt, khiến người Tàu phải kính phục.
Khoảng niên hiệu Đại Hòa (1443-1453), đời Lê Nhân Tông, Trạng nguyên Nguyễn Trực và Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường sang sứ, nhân gặp khoa thi Tiến sĩ xin ứng thí, cà 2 người đều thi đỗ và đều được người Minh nể phục. Phạm Huy đậu Tiến sĩ 1493, đi sứ Minh. Năm (1495-1496) Hoàng giáp Ngô Kinh Thần được cử đi sứ. 1502: Hoàng Nhạc thi đậu Tiến sĩ được cử đi sứ Chiêm Thành; 1507 đi sứ Minh. 1510: Vũ Cận; Đời Lê Cung Hoàng (1527) Lê Quang Bí (chắt Lê Cảnh Tuân) đi Sứ, được ví như Tô Vũ của đời Hán vì bị giữ lại rất lâu (17 năm) bên Tàu, vì tỏ ra có nhiều tài năng lạ, về sau mới được trả về nước. Ông về nước thì nhà Mạc đã thay ngôi nhà Lê, nhưng Hiến Tông Phúc Hải (1541-1546) vẫn phong ông làm Lại bộ Thượng thư, tước Tô Xuyên hầu, khi mất truy phong đến Thiếu bảo Tô Quận công.
Năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Đức. Do nhà Minh o ép, đưa ra các yêu sách nhũng nhiễu, nhà Mạc phải cử Nguyễn Văn Thái đi Sứ. Năm 1529 Trịnh Ngung và Trịnh Ngang được cử đi Sứ và các đợt Sứ thần: 1533 Trịnh Duy Liệu, 1548 Lê Quang Bí. Đời vua Mạc Phúc Hải, niên hiệu Quảng Hòa (1541-1546) mở khoa thi Hội, lấy Lê Như Hổ đỗ Tiến sĩ, nhân đấy cử đi sứ. 1580: Lương Phùng Thời, Nguyễn Nhân An, Nguyễn Uyên, Nguyễn Khắc Tuy, Trần Đạo Vịnh, Nguyễn Cảnh, Đỗ Uông, Vũ Cận, Nhữ Tông, Lê Đình Tú, Vũ Cẩn, Vũ Tĩnh. 1584: Nguyễn Doãn Khâm, Nguyễn Năng Thuận. 1595: Lê Tảo Dụng. Năm 1597, Bình An Vương Trịnh Tùng sai Hoàng giáp Phùng Khắc Khoan làm Chánh sứ, Nguyễn Nhâm Thiệm làm Phó Sứ sang nhà Minh. Do có tài làm thơ, dâng một lúc 36 bài thơ đều hay, nên vua Minh đặc cách tặng Phùng Khắc Khoan là Trạng nguyên. Ông còn biện bác để nhà Minh bỏ lệ cống người Vàng có từ nhà Mạc. 1606: Ngô Trí Hòa (CS), Nguyễn Thục, Phạm Hồng Nho, Nguyễn Danh Thế, Nguyễn Úc, Nguyễn Duy Thời. 1613: Lưu Đình Chất, Nguyễn Đăng, Nguyễn Đức Trạch, Hoàng Kỳ, Nguyễn Chánh, Nguyễn Sư Khanh. 1619: Nguyễn Thế Tiêu, Nguyễn Cung, Bùi Văn Bửu, Ngô Nhân Triệt, Nguyễn Khuê, Nguyễn Tuấn. 1626: Nguyễn Tiến Dụng, Trần Vĩ, Đỗ Khắc Kinh, Nguyễn Tự Cường, Bùi Tất Thắng, Nguyễn Lại. Năm 1628, Tự khanh Giang Văn Minh được cử đi Sứ, nổi tiếng về câu đối khi đối lại vế ra khó của Tàu: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến nay rêu đã xanh)/ ông đối lại Đằng Giang tự cổ huyết do hồng (Bạch Đằng từ xưa máu còn đỏ). 1630: Trần Hữu Lễ, Dương Trí trạch, Nguyễn Kinh Tế, Bùi Bình Quân, Nguyễn Nghi, Hoàng Công Phu. 1637: Nguyễn Duy Hiểu, Giang Văn Minh, Trần Nghi, Nguyễn Thân Lý. 1646: Nguyễn Nhân Chính, Phạm Vĩnh Miên, Trần Khải, Nguyễn Cổn. 1647: CS. Ngô Sĩ Vinh. 
Năm 1663, nhà Minh mất ngôi, nhà Thanh thay thế (1664-1911), sứ Tàu sang ta để dụ việc triều cống. Tây Vương Trịnh Tạc (1657-1682) mới cho Sứ đem đồ cống sang Yên Kinh để cầu phong cho vua Lê. Từ Lê Huyền Tông (1663-1671) đến Lê Mẫn Đế (1786-1788), các vị vua Lê đều được phong là An Nam Quốc Vương. 1663: CS. Lê Hiệu, Dương Hạo, Đồng Tồn Trạch. 1667: Nguyễn Nhuận, Trịnh Thời Tế, Lê Vinh. !673: CS. Nguyễn Mậu Tài và Hồ Sĩ Dương, PS. Đào Công Chính, Phạm Lập Lễ, Vũ Công Đạo, Bùi Duy Tuy. 1682: Thân Toàn, Đặng Công Chất. 1685: CS. Nguyễn Đình Cổn và Hoàng Công Tri; PS. Nguyễn Tiến Tài, Trần Thế Vinh. 1690: CS. Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Quý Đức; PS. Nguyễn Đình Sách, Trần Đào. 1697: CS. Nguyễn Đăng Đạo, Nguyễn Thế Bá; PS. Đặng Đình Tướng, Nhữ Tiến Hiền. 1702: CS. Hà Tông Mục, Nguyễn Diễn, Nguyễn Công Đổng, Nguyễn Dương Bao. 1709: Trần Đình Giản, Lê Kha Tông, Đào Quốc Hiền, Nguyễn Văn Dự. 1715: Nguyễn Công Cơ, Lê Anh Tuấn, Đinh Nho Hoàn, Nguyễn Mậu Áng. 1718: Nguyễn Công Kháng, Nguyễn Bá Tông. 1721: CS. Hồ Phi Tích; PS. Tô Thế Huy, Đỗ Lệnh Danh. 1726: CS. Phạm Khiêm Ích; PS. Nguyễn  Huy Nhuận, Phạm Đình Kính. 1729: CS. Đinh Phụ Ích; PS. Đoàn Bá Dung, Quản Danh Dương. 1732: Ngô Đình Thạc. 1734: CS. Nguyễn Trọng Thường. 1741: CS. Nguyễn Kiều; PS. Nguyễn Tông Quai. 1747: CS Nguyễn Tông Quai; PS. Nguyễn Thế Lập, Trần Văn Hoán.  Khoảng năm Cảnh Hưng 10 (1749) sau khi Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Phùng Thời được thăng Tả Thị lang bộ Hình, tước Lâm Xuyên hầu được cử làm Chánh sứ. 1753: CS. Vũ Khâm Lân; PS. Đào Xuân Hương. 1760: CS. Trần Huy Bật; PS. Lê Quý Đôn, Trịnh Xuân Thụ. 1765: Thám hoa Nguyễn Huy Oánh được cử làm Chánh sứ; PS. Lê Doãn Thân, Nguyễn Thường. 1771: CS. Đoàn Nguyễn Thục; PS. Vũ Huy Đĩnh, Nguyễn Lý. 1777: CS. Phan Tiến; PS. Ngô Hy Chử, Nguyễn Hương. 1783: CS. Hoàng Bình chính; PS. Lê Hữu Dụng, Nguyễn Đương. 1785: PS. Nguyễn Trọng Đường (theo tài liệu Văn bia trung tu Đài Ngưỡng Đức.- Nguyễn Thế Đạt dịch)… 
Triều Tây Sơn, khi nhà Thanh, lấy cớ cứu nhà Lê đã đem 20 vạn quân của 4 tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Quảng Đông, Quảng Tây sang chiếm giữ thành Thăng Long, Bắc Bình Vương được tin, lập tức hội các tướng sĩ bàn việc đem binh ra đánh. Bắc Bình Vương sai đắp đàn ở núi Bàn Sơn (ngày 25/11/ Mậu Thân - 1788), làm lễ lên ngôi Hoàng đế, rồi tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra đánh quân Thanh. 20 vạn quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy bị tiêu diệt nhanh chóng tháo chạy về nước. Ngô Thời Nhậm đã đóng vai Sứ thần sang vận động nhà Thanh để nối lại tình thân thiện. Ngày 26/7/ Kỷ Dậu (1789), vua Càn Long xuống chỉ dụ phong cho vua Quang Trung làm An Nam Quốc vương và lại giáng chỉ vời sang chầu. Vua Quang Trung bèn chọn Phạm Văn Trị có hình dung giống mình để đóng giả vua Quang Trung sang chầu với đoàn Sứ giả khá mạnh vào năm 1790, gồm: Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn... Vua Càn Long vẫn tưởng là Quang Trung thật sang nên đón tiếp rất thân mật, cho vẽ tặng chân dung với lễ ân hậu. Vua Quang Trung con cử Vũ Quốc Công, Vũ Văn Dũng sung chức Chính sự trong cuộc ngoại giao kiêm trinh thám quân sự để đòi lại đất Lưỡng Quảng và xin cưới công chúa nhà Thanh. Mọi việc đang tiến triển tốt đẹp thì Sứ đoàn được tin vua Quang Trung mất đột ngột, nên bọn Vũ Văn Dũng ôm mối hận mà trở về. Triều Tây sơn còn cử các Sứ thần Chánh phó: Nguyễn Hữu Chu, Vũ Huy Phác, Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Hoành Khuông, Nguyễn Quang Thùy, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Nễ…
Năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long lên ngôi sau khi thống nhất được sơn hà, lấy tên nước là Việt Nam và sai Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định làm chánh sứ sang Tàu cầu phong. Có tài liệu nói Sứ đoàn có: Trịnh Hoài Đức làm Chánh sứ, cùng Binh bộ Tham tri Ngô Nhân Tĩnh, Hình bộ Tham tri Hoàng Ngọc Uẩn sang Thanh triều để Quốc thụ, phẩm vật và đem nộp cả Ấn sách của Trung Hoa phong Vương cho vua Tây Sơn. Năm Giáp Tý (1804), Án sát sứ Quảng Tây là Tề Bố Sâm khâm mạng vua Thanh Nhân Tông (1796-1820) sang phong cho vua Gia Long làm Việt Nam Quốc Vương, lễ thụ phong cử hành rất long trọng ở Bắc Thành (Hà Nội). Triều Nguyễn việc ngoại giao đi Sứ theo như quy ước thông lệ của Việt - Trung, cũng như với nhiều nước khác ngày càng quy củ hơn và được coi trọng đặc biệt, đã mở rộng với cả các nước Đông Nam Á, châu Á và phương Tây…
Các tài liệu lịch sử, địa chí của triều Nguyễn đã ghi chép khá kỹ về các Sứ đoàn cũng như các vị Chánh Phó sứ:
Năm Nhâm Tuất (1802) có 2 đoàn sứ bộ: CS. Trịnh Hoài Đức; PS. Ngô Nhân Tĩnh và Huỳnh Ngọc Uẩn. CS. Lê Quang Định; PS. Lê Chính Lộ và Nguyễn Gia Cát. Giáp Tý (1804): CS. Lê Bá Phẩm; PS. Trần Minh Nghĩa, Nguyễn Đăng Đệ. Đinh Mão (1807): CS. Vũ Trinh; PS. Ngô Nhân Tĩnh.- Kỷ tỵ (1809) 2 đoàn: CS. Nguyễn Hữu Thận; PS. Ngô Vị, Lê Đắc Tần và CS. Võ Trinh; PS. Nguyễn Đình Chất, Nguyễn Văn Thịnh. - Quý Dậu (1813): CS: Nguyễn Du; PS. Trần Văn Đại, Nguyễn Văn Phong.- Đinh Sửu (1817): CS. Hồ Công Thuận, PS. Nguyễn Huy Trinh, Phan Huy Thực.- Kỷ Mão (1819): CS. Nguyễn Xuân Tình; PS. Đinh Phiên, Nguyễn Hữu Bổng.- Canh Thìn (1820): CS. Ngô (Thì) Vị; PS. Trần Bá Kiên, Hoàng Văn Thịnh.- 1822: Hà Tông Quyền đi sứ Ba Lăng (Bali thuộc xứ Nam Dương).- Quý Mùi (1823): CS. Nhữ Bá Sĩ.- Ất Dậu (1825) 2 đoàn: CS. Hoàng Kim Hoán, PS. Phan Huy Chú, Trần Chấn và CS. Hoàng Văn Quyền, PS. Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Hữu Nhân.- Đinh Hợi (1827): CS. Phan Thế Trung.- Kỷ Sửu (1829): CS. Nguyễn Trọng Vũ, PS. Nguyễn Đình Tân, Đặng Văn Khải.- Tân Mão (1831) 2 đoàn: CS. Hoàng Văn Đàn, PS. Trương Hảo Hợp, Phan Huy Chú. -CS. Lý Văn Phức.- Quý Tỵ (1833): CS. Trần Văn Trung, PS. Phan Thanh Giản, Nguyễn Huy Chiểu.- Ất Mùi (1835): CS. Lý Văn Phức, PS. Trần Tú Dĩnh, Đỗ Tuấn Đại.- Đinh Dậu (1837): CS. Phạm Thế Trung, PS. Nguyễn Đức Hoạt, Nguyễn Văn Nhượng.- Năm 1839, vua Minh Mạng cử một phái đoàn sang Pháp và Anh do quan Tư vụ Trần Viết Xương dẫn đầu, quan lại Tôn Thất Thường làm Phó đoàn; cùng năm này còn cử 4 phái đoàn đi các nước: Tham tri Đào Trí Phú làm Chính biện, Trần Tú Dĩnh làm Phó biện tiếp xúc với người Hà Lan, Pháp, 1940 lại cử Đào Trí Phú đến Batavia; Phái đoàn thứ 2 do Trần Văn Bưu và Cao Hữu Tán làm Chánh Phó biện đến đảo Bornéo tìm hiểu chính sách cai trị của Anh; Phái đoàn thứ 3 do Nguyễn Đức Long và Lê Bá Tú làm chánh biện, Phan Tĩnh Phó biện đi vùng vịnh Xiêm La; Phái đoàn 4 do Trần Đại Bản và Nguyễn Du làm Chánh Phó biện đi Singabore thuộc địa của Anh...- Tân Sửu (1841) 2 đoàn: CS. Lý Văn Phức, PS. Nguyễn Đức Hoạt, Bùi Phụ Phong.- CS. Hoàng Tế Mỹ, PS. Nguyễn Đình Tân.- Ất Tỵ (1845): CS. Trương Hảo Hợp, PS. Phạm Chi Hương, Vương Hữu Quang.- Bính Ngọ (1846): CS. Ngô Kim Thanh.- Mậu Thân (1848): CS. Bùi Quỹ, PS. Vương Hữu Quang, Nguyễn Thu.- Kỷ Dậu (1849): CS. Phan Tỉnh, PS. Mai Đức Thường, Nguyễn Văn Siêu.- Tân Hợi (1851): CS. Trương Đăng Quế.- Quý Sửu (1853): CS. Phan Huy Vịnh, PS. Vũ Văn Tuấn, Phạm Chi Hương.- Đinh Tỵ (1857): CS. Nhữ Bá Sĩ.- Tân Dậu (1861): CS. Hoàng Thiên Trường, PS. Văn Đức Khuê, Nguyễn Huy Kỷ.- 1863: Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Ngụy Khắc Đản.. đi sứ Pháp.- Ất Sửu (1865): CS. Đặng Huy Trứ.- Đinh Mão (1867): CS. Đặng Huy Trứ.- Mậu Thìn (1868): CS. Nguyễn Thuật, PS. Lê Tuấn, Hoàng Tịnh, Nguyễn Tư Giản.- Canh Ngọ (1870): CS. Trần Bích San, PS. Phạm Hy Lượng.- Quý Dậu (1873): CS. Phan Sĩ Thục; PS. Hà Văn Quan.- Bính Tý (1876): CS. Bùi Văn Dị, PS.Lâm Hoàng.- Canh Thìn (1880): CS. Nguyễn Thuật, PS. Trần Khánh Tiến.- Nhâm Ngọ (1882): CS. Phạm Thận Duật, PS. Phạm Văn Trứ…
II. Các dòng họ có nhiều người, nhiều lần đi sứ
Tổng hợp lại qua tư liệu các sách viết về ngoại giao từ thời Đinh Tiên Hoàng cho đến hết triều Nguyễn tạm tính có trên 300 lần, lượt người là Chánh Phó sứ đi Sứ sang Sứ Trung Hoa và một số nước khác. Có 35 dòng họ có người đi Sứ: Nguyễn (94 người), Lê (29), Trần (23), Ngô (16), Hoàng (15), Phạm (14), Vũ (13), Phan (11), Đào (10), Bùi (8), Đặng (8), Trịnh (7), Đỗ (6), Đinh (5), Đoàn (4), Nhữ (4), Hồ (3), Giang (3), Hà (3), Lý (3), Vương (3), Dương (2), Chu (2), Lưu (1), Từ (1), Phùng (1), Lâm (1), Văn (1), Mai (1), Doãn (1), Lương (1), Đồng (1), Thân (1), Tô (1), Quản (1), Ngụy (1). Có 12 người đi sứ từ 2 lần trở lên, Triều Nguyễn có Lý Văn Phức đi Trung Quốc 4 lần; Đặng Huy Trứ đi 5 lần (3 lần sang Trung Hoa, 2 lần đi Triều Tiên và Xiêm)... Sau đây là một số dòng họ tiêu biểu có nhiều đời, người đi Sứ:
- Họ Phan Huy tỉnh Hà Tĩnh: Phan Huy Ích (1750-1822), quê làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc (nay là xã Thạch Châu, Thạch Hà, Hà Tĩnh), thân sinh của Huy Chú con rể Ngô Thì Sĩ, đi sứ Tàu năm 1790 (triều Tây Sơn). Phan Huy Chú (1782-1840), triều Nguyễn 3 lần đi Sứ, PS năm 1824; CS (1830); đi sứ Batavia (Inđônésia). Phan Huy Thực (1778-1844), con Huy Ích, em Huy Chú, đi sứ Thanh năm 1817. Phan Huy Vịnh (1800-1870), con Huy Thực, cháu Huy Ích, 2 lần đi sứ Thanh 1841 và 1854.
- Họ Võ (Vũ) làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là Bình Giang, tỉnh Hải Dương: Võ Phong, làm quan triều Lê Thánh Tông, nổi tiếng đấu vật nên gọi là Trạng Vật, đi Sứ Trung Hoa; Vũ Cận (1475 - ?), đi Sứ 1510; Vũ Công Đạo (1629-1714), đi sứ; Vũ Huy Đỉnh (1730-1789), đi Sứ năm (1772); Vũ Huy Tấn (1749-1800), con trai của Huy Đỉnh, 2 lần đi Sứ Trung Quốc, triều Tây Sơn. 
- Họ Hồ Nghệ An: Thời Trần, Hồ Tông Thốc, quê ở Thổ Thành (nay là xã Thọ Thành, Yên Thành, Nghệ An) đi sứ Nguyên. Triều Hồ Hán Thương có Hồ Ngạn Thần đi sứ Minh.
- Họ Hồ Quỳnh Đôi: Hồ Sĩ Dương (1621-1681), quê xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An Chánh sứ 1673; Hồ Phi Tích (1664-1733) Chánh sứ (1721); Hồ Sĩ Đống (1739-1785), cháu Sĩ Dương, PS.
- Họ Ngô làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Đông (nay thuộc Hà Nội): Ngô Thì Nhậm (1746-1803), triều Tây Sơn, năm Cảnh Thịnh (1793) làm chánh sứ sang Tàu; Ngô Thì Hương (1774-1821), em Ngô Thì Nhậm, 2 lần đi Sứ: Phó sứ năm 1809 và Chánh sứ năm 1820. 
- Họ Ngô xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, Nghệ An, có các vị sứ thần: Ngô Trí Hòa (1563-1625) làm Chánh sứ năm (1606); Ngô Sĩ Vinh, con thứ 2 Ngô Trí Hòa, Chánh sứ năm 1647.
- Dòng họ Lê làng Mộ Trạch, huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang, Hải Dương): Lê Cảnh Tuân làm quan triều Trần, được một phái cử sang Tàu nhờ ngoại viện chống lại nhà Hồ (1400-1407). Lê Quang Bí đi sứ 2 lần: năm 1527 đời Lê Cung Hoàng và 1548 (đời Mạc) là chắt của Lê Cảnh Tuân.
- Họ Nguyễn xã Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh có: Nguyễn Nễ (1760-1805), đỗ Hương cống, làm quan triều Tây Sơn, làm Phó sứ sang Trung Hoa; Nguyễn Du (1765-1820) triều Nguyễn (Gia Long) làm chánh sứ  sang Trung Hoa năm (1813), lại được cử làm Chánh sứ (1820), nhưng chưa kịp đi thì bị bệnh mất. Nguyễn Du là em trai của Nguyễn Nễ và đều cùng là con trai của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm. 
- Họ Hà: Hà Tông Mục (1653 - ?), quê ở làng Tỉnh Thạch, xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, Chánh sứ 1702; Hà Tông Huân (1697 - ?), quê Thanh Hóa đi sứ Thanh; Hà Tông Quyền (1789-1839), quê ở Cát Động, Thanh Oai, Hà Đông (nay là Hà Nội) đi sứ Ba Lăng (Bali xứ Nam Dương) năm 1822.
- Họ Nguyễn Trọng - Trung Cần:
+ Nguyễn Trọng Thường 
Nguyễn Trọng Thường (1681-1738 (?), con trai của Nguyễn Trọng Tuyền. Đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Vĩnh Thịnh 8 (1712) đời Lê Dụ Tông. Làm quan đến Lại bộ Tả Thị lang. Sách Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch và ghi theo gia phả họ Nguyễn Trọng) thì năm Long Đức 3 (1734 (?), Nguyễn Trọng Thường đi sứ Trung Hoa, mất trên đường đi, nhưng theo nghiên cứu của TS. Nguyễn Hữu Tâm (Viện Sử học) qua sách Đại Thanh thực lục, Cao Tông thực lục, Q.37, Tr.3: Ngày Đinh Sửu, niên hiệu Long Đức thứ 2 (19/3/1737) Quốc vương An Nam nối ngôi là Nguyễn Duy Vĩ sai Bồi thần là Nguyễn Trọng Thường, Vũ Huy, Vũ Duy Tể dâng biểu cống tiến sản vật của năm Ung Chính thứ 10 (1732) và Ung Chính thứ 13 (1735). Ban thưởng như lệ định. Đình chỉ việc ban yến tiệc); Như vậy, TS. Nguyễn Trọng Thường làm Chánh sứ sang nhà Thanh vào năm 1736 - 1737, không phải đi sứ 1734 và mất trên đường đi như sách; Nghệ An ký; của Hoàng giáp Bùi Dương Lịch chép là viết theo gia phả dòng họ. Sách Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789) chép năm 1734 ông được lệnh đi đón Sứ Tàu: Giáp Dần, Long Đức 3 (1734) (Thanh Ung Chính 12) Nguyễn Trọng Thường làm Hữu Thị lang bộ Hộ. Tháng 8, ngày 13 (10/IX/1734) sai quan Hầu mệnh là Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Công Quai đem bọn Đồng Trung Thư Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Đăng Cao đến trước ở cửa quan Lạng Sơn nghênh tiếp sứ Trung Quốc sang sách phong. Theo Bùi Hoàng Giáp trong sách Thanh Chương huyện chí lại chép: Năm Quý sửu (1733), thăng Tả Thị lang bộ Công, tước Cần Xuyên hầu, hiệu Cửu Đường, vâng mệnh đi sứ. Ngày lên đường, ông để lại một hộp bằng đồng, dặn gia nhân rằng; Khi có tin về, mới được mở xem, rồi lên đường. Tới Hán Khẩu ông lâm bệnh, qua đời. Được tin cáo phó, gia nhân mở hộp ra xem, thì ra, ông đã dự báo về ngày, tháng, năm ông bệnh chung. Ông được phong tặng Lại bộ Tả Thị lang Cần Quận công, gia tặng Thượng thư bộ Công. Thờ tại Văn Miếu huyện... Theo văn bia dòng họ 三代黃花四代使阮仲 thì phần ghi về ông như sau: Nguyễn Trọng Thường đỗ khoa Nhâm Thìn Đệ Tam giáp Đồng Tiến sĩ xuất thân, khâm tứ Vinh quy. Thăng Đông các Đại học sĩ phụng vâng Bắc sứ. Thăng Công bộ Hữu Thị lang, tước Cần Xuyên hầu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu. Khâm sai Công bộ Chánh sứ qua Yên Đài. Cống sứ hoàn thành phụng chỉ về nước. Thăng Công bộ Thượng thư, Trụ quốc Thượng trật. Lịch Lê triều sắc phong mĩ tự. Nguyễn triều sắc phong Dực bảo Trung hưng tôn thần ...(2). Như vậy theo văn bia do dòng họ cho khắc dựng vào triều Nguyễn sau khi Nguyễn Trọng Võ đi Sứ Trung Quốc 2 lần trở về, thì Nguyễn Trọng Thường đi Sứ tới 2 lần, nhưng cũng không ghi rõ vào các năm nào (?), mà lần thứ 2 đi về: Cống sứ hoàn thành phụng chỉ về nước, tức là lần thứ 2 vẫn còn sống phụng chỉ về nước. Bia cũng không ghi ông mất vào năm nào (?) Chánh sứ Nguyễn Trọng Thường Cống Sứ Bắc triều, có nhiều tài liệu ghi chép đến việc đi Sứ của ông, nhưng chưa rõ mấy lần (có tài liệu như sách Hương xã Nam Trung của Hồ Khải Đại, người làng Trung Cần biên soạn ghi là ông đi sứ nhiều lần), nay vẫn chưa rõ năm ông mất, mất ở đâu (?), tạm xác định có 2 lần đi Sứ, được gia tặng Công bộ Thượng thư, tước Cần Quận công. Ông được triều Lê ban nhiều sắc phong (hiện còn lưu 8 bản), được thờ là Thần ở đình Trung Cần và Văn Thánh huyện, tổng.
+ Nguyễn Trọng Đương (còn gọi là Đang)
Nguyễn Trọng Đương (1723-1786), húy là Tiêu, thụy Đôn Nhã, tự Tượng Hiền. Con trai của Nguyễn Trọng Thường, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời Lê Hiển Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm Hiệu lý. Được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (1761), trở về thăng Đốc trấn Lạng Sơn, tước Lạp Sơn bá. Khi làm Đốc trấn Lạng Sơn vào năm 1785, ông đã tổ chức trùng tu xây dựng lại đài Ngưỡng Đức một cách chắc chắn bằng gạch đá (trước đó làm bằng tranh tre). Đài Ngưỡng Đức là một công trình làm nơi dừng chân nghỉ và đón tiếp các Sứ đoàn nước ta đi sứ sang Trung Quốc. Đó cũng như một cột mốc biên giới vững chắc giữa nước ta và Tàu. Ông cũng đã cho dựng bia ghi dấu và trực tiếp soạn bài văn bia “Trùng tu quan thượng Ngưỡng Đức đài bi ký”. Làm Đốc thị trấn Thuận Quảng, tử trận (6-1786) khi quân Tây Sơn vây đánh thành, được truy phong Hữu Thị lang, tước hầu. Nguyễn Trọng Đương được triều Nguyễn sắc phong là Dực bảo Trung hưng linh phù chi Thần thờ ở đình Trung Cần và Văn Thánh huyện, tổng.
+ Nguyễn Trọng Đường (còn gọi Nguyễn Đường)
Nguyễn Trọng Đường (1746-1811), húy là Viễn. Đích tôn của Nguyễn Trọng Thường, gọi Nguyễn Trọng Đương bằng chú. Đỗ  Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Hợi - Cảnh Hưng 40 (1779). Làm quan tới chức Đông các Đại Học sĩ, tước Chi Phong bá. Năm Nhâm Dần (1782) giữ chức Thanh hình Hiến Sát sứ đạo Sơn Nam. Được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh. Hoàng đế nhà Thanh khen ngợi ban cho chức Lưỡng quốc Hàn lâm và bức đại tự gồm 4 chữ: Tam thế sứ hoa thêu trên lá cờ bằng gấm đặc biệt, nổi danh đất Trung Châu. Trở về thăng Thị chế, Đốc trấn Lạng Sơn, tước Chi Phong bá. Đầu đời Gia Long được vời ra giữ chức Đốc học Sơn Nam, Thanh Ngọc hầu. Lê triều phong mỹ tự. Nguyễn triều sắc phong Đoan túc Dực bảo Trung hưng tôn thần. Nguyễn Trọng Đường được thờ là Thần ở đình Trung Cần và Văn Thánh huyện, tổng.
+ Nguyễn Trọng Võ (cũng gọi là Vũ)
Nguyễn Trọng Võ (Quý Tỵ 8/2/1773 - Kỷ Dậu 28/3/1849). Con trai của Nguyễn Trọng Đường, là một Nho sinh được Triều Gia Long cho triệu vào Kinh để khảo hạch (như thi tuyển Cử nhân) làm quan, Triều Minh Mệnh thứ 2 có chiếu triệu Sĩ nhân Nguyễn Trọng Vũ (Võ) vào Kinh, đặc ban Phó Đốc học thành Gia Định (1821), bổ Công bộ Chủ sự, Thự Lang trung, Cai bạ Lang trung, thăng Hàn lâm viện Thị độc sĩ. Ất Phó sứ sang nhà Thanh năm Giáp Thân (1824). Thăng thụ chức Thiêm sự Công bộ, phái làm Tham hiệp Sơn Tây (1826), Tham hiệp Nam Định, Hiệp trấn Hưng Hóa (1828). Gia hàm Hữu Thị lang bộ Công, sung làm Chánh sứ sang nhà Thanh năm Mậu Tí (1828), lúc sang có thứ phu nhân là Nguyễn Thị Sách cùng đi. Các chức khác: Thự Tham hiệp Quảng Nam (1831); Binh bộ Hữu Thị lang (1833), thăng Thự Hữu Tham tri bộ Binh, hàm Tòng nhị phẩm, sung Toản tu, biên soạn sách: “Thực lục về liệt Thánh” (cùng các vị nổi tiếng: Trương Minh Giảng, Phan Huy Thực, Trương Đăng Quế, Bùi Phổ, Nguyễn Trung Mậu, Hà Duy Phiên, Lê Nguyên Trung). Vì anh trai là Nguyễn Chương Đạt để Lê Văn Khôi nổi dậy đánh thành Phiên An, bị liên đới trách nhiệm và cách hết chức tước.
Phu nhân Nguyễn Thị Tỉnh, con gái của Tiến sĩ Nguyễn Khuê, quê ở xã xã Cổ Đan, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc.
Thứ  phu nhân Nguyễn Thị Sách, họ Nguyễn Nhân ở làng Trung Cần.
  Kết lại: Ở nước ta trong sự nghiệp Ngoại giao đi Sứ đã có các dòng họ có nhiều người đi Sứ nhiều lần sang Trung Quốc và một số nước lân bang và phương Tây, như các họ: 
- Phan Huy (Hà Tĩnh - Sơn Tây): Có 3 đời liên tiếp đi sứ đến 7 lần (Huy Chú 3, Huy Vịnh 2) .
- Họ Võ (Vũ) Mộ Trạch, Hải Dương có 5 người, 6 lần đi sứ, nhưng chí có 2 cha con cùng 1 đời 3 lần đi Sứ Trung Quốc (Huy Đỉnh 1, Huy Tấn 2). 
- Hồ Quỳnh Đôi, 3 đời đi sứ khoảng 3-4 lần (tương truyền Sĩ Dương đi Sứ nhiều lần), nhưng không trực hệ mà thuộc các chi khác nhau.
- Họ Ngô Thì (Sơn Tây), một đời, 2 anh em 3 lần đi sứ (Thì Nhậm 1, Thì Hương 2). 
- Họ Ngô Diễn Kỷ (Nghệ An), 2 đời 2 cha con đi sứ 2 lần.
- Họ Lê Cảnh (Hải Dương), 2 người đi sứ 2 lần nhưng cách nhau đến 4 đời
- Nguyễn Tiên Điền (Hà Tĩnh), 2 người đi sứ 2 lần nhưng là 2 anh em cùng 1 đời.
- Hà Tông, quê gốc ở Can Lộc, Hà Tĩnh 3 người 3 lần đi Sứ, nhưng cả 3 người sách sử lại ghi quê ở 3 tỉnh khác nhau và không rõ có trực hệ hay không?
Qua tra cứu tài liệu, thống kê, ghi chép như trên có thể kết luận: Họ Nguyễn Trọng - Trung Cần là dòng họ duy nhất ở Việt Nam có 3 đời liên tục thi đậu Tiến sĩ và 4 đời liên tiếp đi Sứ tới 5 lần, có thể xét vào hạng Kỷ lục Guiness ở nước ta.
Chú thích và sách tham khảo
1. Phan Huy Chú. Lịch triều hiến chương loại chí. TIV: Binh chế chí, Văn tịch chí, Bang giao chí, Bảng sách dẫn. Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam phiên dịch và chú giải.- H., Sử học, 1962.- 287 Tr., 18,5 x 26cm.
2. Nguyễn Lương Bích. Lược sử ngoại giao Việt Nam các thời trước.- H., QĐND, 1996.- 279 Tr., 19cm.
3. Huyền Quang - Xuân Khôi - Đại Chí. Việt Hoa bang giao sử. Từ thời Thượng cổ đến đại cận kim. Tái bản trên bản in năm 1952.- Thanh Hóa, Hồng Đức, 2015.- 187 Tr., 20,5cm.
4. Nguyễn Thế Long. Bang giao thời Đại Việt triều Tây Sơn. Triều Tây Sơn bang giao với các nước phía Nam, Tây, Tây Nam và Hải đảo, quan hệ với các nước phương Tây, Nhật.- H., VH-TT, 2005.- 234 Tr., 20,5cm.
5. Trần Nam Tiến. Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây dưới triều Nguyễn (1802-1858).- HCM, Đại học Quốc gia, 2006.- 265 Tr., 20,5cm.
6. Nguyễn Q Thắng - Nguyễn Bá Thể. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Tái bản lần thứ VIII có sửa chữa và bổ sung.- HCM, Tổng hợp Tp. HCM, 2006.- 1690 Tr,, 16 x 24cm.
7. Ninh Viết Giao. Từ điển nhân vật xứ Nghệ.- HCM, Tổng hợp Tp. HCM, 2008.- 796 Tr., 16 x 24cm.
8. Viện Sử học - Sở VHTT&DL Nghệ An - Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Truyền thống Văn hóa - Khoa bảng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An.- Thanh Hóa, Hồng Đức, 2015.- 458 Tr., 16,5 x 24,5cm.
9. Đào Tam Tỉnh. Khoa bảng Nghệ An (1075-1919). In lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung.- Nghệ An, 2005.- 547 Tr., 14,5 x 20,5cm.
10. Những trang sử họ Hồ ở Việt Nam (Rút ra từ các tập "Phả hệ họ Hồ"). Q. A-B. In lần thứ 2 có bổ sung và sửa chữa (Lưu hành nội bộ)/ Hồ Bá Hiền BS.
11. Các tập Gia phả họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nam Đàn…
12. Đi thực tế điền dã và tham kháo thêm các tài liệu khác…  




Cùng chuyên mục