Quay lại

Tự hào những chiến thắng của Quân đội ta

Nguyễn Văn Toàn  |   10/1/2024

Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (ngày 22/12/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen tặng: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Những thắng lợi đầu tiên 
Quân đội ta được Đảng ta thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo, thuộc huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ban đầu gồm 34 chiến sĩ do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy với tên gọi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Đội được trang bị 34 khẩu súng, chia thành 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên. 
Vừa mới ra đời, vào ngày 25/12/1944, Đội đã tập kích diệt đồn Phai Khắc thuộc tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Tiếp đó, ngày 26/12/1944, Đội đánh Đồn Nà Ngần (cách Phai Khắc 15 km về phía Đông Bắc). 
Ngày 15/4/1945, Đảng ta hợp nhất Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Chiều 16/8/1945, dưới sự chỉ huy của Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một đơn vị Việt Nam Giải phóng quân từ Tân Trào (Tuyên Quang) tiến về giải phóng thị xã Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên), mở màn cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh khen rằng: “Quân đội ta là quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng. Mới ra đời, với gậy tầy, súng kíp đã cùng toàn dân đánh Pháp, đánh Nhật, đưa Cách mạng Tháng Tám đến thành công” . 
Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950
Sau 29 ngày đêm chiến đấu quả cảm, oanh liệt (16/9/1950-14/10/1950), 3 vạn chiến sĩ Quân ta đã làm nên sự toàn thắng của Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950. Quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 8.300 tên địch, chiếm 41% lực lượng cơ động chiến lược của thực dân Pháp ở Đông Dương. Chiến thắng Biên Giới Thu Đông 1950 đã làm phá sản kế hoạch quân sự, chính trị của thực dân Pháp. Đây là thất bại chưa từng có trong chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp tính đến thời điểm lúc bấy giờ.
Bên cạnh đó, quân ta cũng thu được hơn 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh; gồm 2.000 súng máy các loại (trung liên, đại liên, trọng liên), 8.500 súng cá nhân (súng ngắn, súng trường, tiểu liên), 450 xe tải, 13 khẩu trọng pháo, 120 súng cối các cỡ của quân Pháp và 3.500 quả đạn, ba tiểu đội thiết giáp, 12.500 viên đạn đại bác 105mm, 7.000 viên đạn súng không giật, 5 triệu viên đạn súng bộ binh, 600 tấn xăng. Quân trang thu hơn 4000 áo capot, đủ trang bị cho hơn 2 trung đoàn. Quân lương như gạo, bột mì, muối, đường, sữa... thu được 1.279 tấn. Quân y thu 8 tấn thuốc men, băng gạc.
Quân ta cũng giải phóng 5 thị xã, 12 thị trấn, nhiều vùng đất quan trọng suốt dải biên cương dài 750 km, gồm 35 vạn dân. Địa bàn căn cứ địa Việt Bắc được rộng mở, nối liền với các vùng miền trong nước (đồng bằng Bắc Bộ và Liên khu 4) và các nước xã hội chủ nghĩa anh em.
Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954
Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương. Thực dân Pháp đã bố trí lực lượng ở Điện Biên Phủ với 49 cứ điểm đề kháng mạnh với 3 phân khu liên hoàn. Tổng số binh lực lúc cao nhất của địch tại đây là 16.200 quân, gồm 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay (12 chiếc), 1 đại đội vận tải. “Canh bạc Điện Biên Phủ” đã tiêu tốn hơn 40% quân số viễn chinh của thực dân Pháp ở Đông Dương. Các tướng lĩnh Mỹ và Pháp đều cho rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là “pháo đài bất khả chiến bại”.
Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà cả đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”. 
Tổng quân số của Quân đội ta được điều động tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ lên đến 55.000 chiến sĩ, bao gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn bộ binh 57 (Đại đoàn 304), Đại đoàn công binh - pháo binh 351. Đảng, Chính phủ ta cũng đã huy động được 260.000 dân công, bằng 12 triệu ngày công để phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Tổng khối lượng cung cấp cho Chiến dịch Điện Biên Phủ là 30.759 tấn lương thực, thực phẩm, quân trang, vũ khí, y tế….. Trong giai đoạn chuẩn bị Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng, Chính phủ ta đã huy động lực lượng thanh niên xung phong, dân công cùng với bộ đội làm được 89km đường mới, sửa chữa, nâng cấp 500km đường.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trải qua 55 ngày đêm chiến đấu kiên cường, dũng cảm, sáng tạo, quân dân ta đã giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (7/5/1954). Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo bước ngoặt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, đưa đến việc ký kết Hiệp định Genève (20/7/1954) và đánh dấu sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta (1945-1954).
Tại Hội nghị Chính trị đặc biệt (3/1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và anh dũng của nhân dân cả nước ta, chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ càng làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác-Lênin trong thời đại ngày nay: chiến tranh xâm lược của bọn đế quốc nhất định thất bại, cách mạng giải phóng của các dân tộc nhất định thành công”. 
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968
Ngay khi thành lập (15/2/1961), Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã liên tiếp lập nhiều chiến công. Tiêu biểu là trận Ấp Bắc (năm 1963), mở ra phong trào “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công” trên toàn chiến trường miền Nam. Trong Chiến dịch Bình Giã (năm 1965), lần đầu tiên Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam sử dụng hai trung đoàn bộ binh tiến công, đánh bại các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” của địch. Tiếp đó là thắng lợi của các chiến dịch Ðồng Xoài (năm 1965), Ba Gia (năm 1965), đánh dấu bước phát triển về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến tập trung, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Bộ đội hành quânẢnh TL

Nhằm cứu vãn tình thế thất bại, đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam Việt Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Ðể đánh thắng chiến lược chiến tranh mới, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tích cực nghiên cứu nắm địch, chủ động phát triển nhanh lực lượng, đẩy mạnh tác chiến. Những chiến thắng Vạn Tường (năm 1965), Plây Me (năm 1965)... đã chứng minh bước trưởng thành vượt bậc của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Thắng lợi của Chiến dịch Bàu Bàng - Dầu Tiếng (năm 1965) cũng đã mở ra phong trào “Tìm Mỹ mà diệt”, “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”.
Phát triển thế tiến công, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam liên tiếp đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 – 1967 của Mỹ. Trong đó nổi bật là Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã bẽ gãy cuộc hành quân Junction City (năm 1967) với 45.000 quân Mỹ. 
Những chiến thắng giòn giã nói trên đã củng cố thêm quyết tâm của Bộ Chính trị về quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 nhằm mở ra cục diện mới trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã mở màn vào đêm 30 rạng ngày 31/1/1968. Quân ta đồng loạt tiến công vào Sài Gòn và hơn 40 thành phố, thị xã khác (4 thành phố, 37 thị xã và hàng trăm thị trấn, 4 bộ tư lệnh quân đoàn, hầu hết các bộ tư lệnh sư đoàn, 30 sân bay và gần 100 cơ sở hậu cần), làm cho Mỹ - ngụy bị bất ngờ, không kịp trở tay đối phó. 
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta không chỉ có ở Tết Mậu Thân, mà trên thực tế đây chỉ là đợt 1, còn đợt 2 và đợt 3 diễn ra mùa hè và mùa thu năm 1968. Kết quả trong năm 1968, theo Thông cáo của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam ngày 20/12/1968, quân và dân ta ở miền Nam đã loại khỏi vòng chiến đấu 630.000 tên Mỹ, ngụy và quân của các nước đồng minh Mỹ; phá hỏng, phá huỷ 13.000 xe quân sự, 1.000 tàu, xuồng chiến đấu trên sông, 700 kho đạn, 100 khẩu pháo các loại; diệt, bức hàng, bức rút 15.000 đồn bốt, chi khu. 
Đánh giá về thắng lợi này, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng sau ngày toàn thắng (1976) đã nêu rõ: “Thắng lợi rất oanh liệt của đòn tiến công và nổi dậy táo bạo, bất ngờ đó đã đảo lộn thế chiến lược của địch, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Paris”.
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” năm 1972
Ngày 29/12/1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Phùng Thế Tài rằng: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua”.
Đúng như dự đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đế quốc Mỹ đã huy động lực lượng lớn nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai để thực hiện chiến dịch tập kích đường không chiến lược đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số địa phương vào những ngày cuối tháng 12/1972. Đế quốc Mỹ đã sử dụng 193 máy bay ném bom chiến lược B-52 (chiếm gần 50% số B-52 Mỹ có lúc đó) với tần suất 663 lần chiếc; cùng 1.077 chiếc máy bay chiến thuật (chiếm hơn 1/3 số máy bay chiến thuật Mỹ), với tần suất 3.920 lần chiếc. Bên cạnh đó đế quốc Mỹ còn huy động số lượng lớn máy bay gây nhiễu điện tử từ xa, máy bay tiếp dầu trên không, máy bay trinh sát không người lái tầng  thấp, máy bay có người lái trinh sát tầm cao, máy bay trinh sát không người lái tầng  cao… Đồng thời, nhiều tàu sân bay, tàu chiến đấu tối tân, hiện đại đã được đế quốc Mỹ sử dụng để phục vụ cho chiến dịch này. Các căn cứ của Mỹ trên đảo Guam, Thái Lan, Nhật Bản, Philippines cũng làm việc hết công suất đến phục vụ chiến dịch ném bom chiến lược này. Để chỉ huy thống nhất, đế quốc Mỹ lập Bộ chỉ huy lâm thời đóng ở căn cứ Utapao (Thái Lan) đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy không quân chiếc lược Mỹ và Bộ Quốc phòng Mỹ.
Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, bằng bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, trải qua 12 ngày đêm chiến đấu, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi tổng cộng 81 máy bay các loại, trong đó có 34 máy bay B-52, 5 máy bay F111, 21 máy bay F4, 12 máy bay A7, 1 máy bay F105, 4 máy bay AD6, 1 máy bay trực thăng HH-53, 1 máy bay không người lái, bắt sống nhiều giặc lái. Trong đó, quân dân Hà Nội lập công to lớn hơn cả với thành tích bắn rơi 32 chiếc máy bay (trong đó có 25 máy bay B-52).
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân; là chiến thắng của nghệ thuật quân sự sáng tạo của Đảng và Quân đội ta. Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì nhận định: “Đây là thắng lợi to lớn nhất, chiến công xuất sắc nhất của cuộc chiến tranh nhân dân trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ… Quân dân Hà Nội, quân dân miền Bắc anh hùng đã đập tan cuộc tập kích chiến lược của Không quân Mỹ, lập nên một “Điện Biên Phủ trên không” oanh liệt, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hiệp định Paris”. 
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng đã giành được, tạo ra bước chuyển chiến lược căn bản về cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đại thắng mùa Xuân năm 1975
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân và dân ta đã mở Chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4/3 đến ngày 3/4/1975), giành thắng lợi vẻ vang. Chiến thắng của Chiến dịch Tây Nguyên đã xóa sổ hoàn toàn Quân đoàn 2, Quân khu 2 của ngụy Sài Gòn, giải phóng địa bàn chiến lược Tây Nguyên và một số tỉnh Trung Bộ, làm thay đổi cơ bản so sánh lực lượng, thế chiến lược giữa ta và địch, tạo bước ngoặt quyết định, đưa cuộc tiến công chiến lược của ta phát triển thành tổng tiến công trên toàn miền Nam Việt Nam. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trong cuốn “Chiến dịch Tây Nguyên đại thắng” đã viết: “Chiến thắng Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã tạo sức mạnh toàn diện mới. Điều quan trọng là nó đã tạo ra sự thay đổi cơ bản về tinh thần, tư tưởng, về so sánh lực lượng, về thế chiến lược giữa ta và địch”.
Ngày 18/3/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam ngay trong năm 1975. Ngày 25/3/1975, Bộ Chính trị bổ sung quyết tâm giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975. Do đó, Chiến dịch Trị Thiên-Huế (từ ngày 5 đến ngày 26/3/1975) và Chiến dịch Đà Nẵng (từ ngày 26 đến ngày 29/3/1975) được tiến hành. Ngày 26/3/1975, Huế được giải phóng và ngày 29/3/1975, Đà Nẵng được giải phóng đã khiến toàn bộ lực lượng Quân đoàn 1, Quân khu I của ngụy Sài Gòn bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp, nhận định: “Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu”. 

Xe tăng tiến vào Dinh Độc lập; Ảnh TL

Xuân Lộc là một thị xã thuộc tỉnh Long Khánh, cách Sài Gòn 60km về phía Đông Bắc là phòng tuyến trọng tâm để địch ngăn Quân ta cơ động theo Đường 1 và Đường 20 đánh vào Biên Hòa và Sài Gòn. Từ ngày 9 đến 16/4/1975, ta mở chiến dịch Xuân Lộc. Chiến dịch tiến công Xuân Lộc thắng lợi đã đập tan “cánh cửa thép” phía Đông, làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ còn lại của địch ở quanh Sài Gòn, làm suy sụp nhanh thêm tinh thần chiến đấu của quân ngụy. Thắng lợi của chiến dịch đã tạo ra một địa bàn tập kết thuận lợi cho các binh đoàn chủ lực tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông.
Ngày 4/4/1975, Quân uỷ Trung ương giao cho Khu 5 và lực lượng hải quân tiến công giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Từ ngày 14 đến ngày 29/4/1975, toàn bộ các đảo trên được giải phóng.
Ngày 21/4/1975, Tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu từ chức để cao chạy xa bay. Trong một bài nói chuyện tại Trường Đại học Tunale vào ngày 23/4/1975, Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã nêu rõ: “Cuộc chiến tranh đã kết thúc đối với người Mỹ”. 
Ngày 26/4/1975, Quân ta bắt đầu mở Chiến dịch Hồ Chí Minh với lực lượng áp đảo, gấp 3 lần lực lượng quân đội ngụy tại Sài Gòn. Tham gia chiến dịch có 4 quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Binh đoàn cánh Tây Nam (tương đương quân đoàn) cùng lực lượng vũ trang địa phương và Nhân dân trên địa bàn chiến dịch. Về binh khí, kỹ thuật, Quân ta đã tập trung được 516 khẩu pháo mặt đất, 550 tên lửa và pháo phòng không, 1 đại đội máy bay A37, 320 xe tăng, xe thiết giáp, 1.600 xe kỹ thuật chiến đấu, hơn 10.000 xe vận tải, 60.000 tấn vật chất (15.000 tấn đạn)… Năm cánh quân của Quân ta vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch. Vào 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh buộc phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Sài Gòn được giải phóng. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng. 
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và đánh dấu sự thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược cùng ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam. 
Nghĩa vụ quốc tế cao cả, trong sáng
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời. Vào thời điểm đó ở Trung Quốc đang có chiến tranh giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng. Năm 1948, Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc bị sức ép rất lớn ở phía Nam nên Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị Đảng ta cử quân sang giúp cho cách mạng Trung Quốc. Nhận được yêu cầu này, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã chỉ thị cho Bộ Quốc phòng tổ chức lực lượng sang để giúp bạn. Bộ chỉ huy chiến dịch chung với tên gọi Bộ Tư lệnh khu Thập Vạn Đại Sơn được thành lập gồm: Đồng chí Lê Quảng Ba làm Tư lệnh chiến dịch; đồng chí Trần Minh Giang, cán bộ của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, làm Chính trị ủy viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn Tư lệnh Lê Quảng Ba: “Cẩn thận, bí mật, đoàn kết, hữu nghị, thắng lợi”. Tại Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (từ tháng 6 đến tháng 10/1949), bộ đội ta đã phối hợp với lực lượng địa phương của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tiến công quân của Tưởng Giới Thạch. Mục tiêu của chiến dịch là mở rộng vùng kiểm soát của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tại khu vực dãy núi Thập Vạn Đại Sơn tại 3 huyện Ung Châu, Long Châu và Khâm Châu giáp biên với vùng Đông Bắc Việt Nam, tạo điều kiện phát triển lực lượng phối hợp với đại quân của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc khi đó đang tiến về phía Nam. Kết quả là quân ta đã phối với với bạn chiếm được 10 trên 12 vị trí thuộc 3 huyện Long Châu, Khâm Châu, Phòng Thành, mở rộng vùng kiểm soát, tạo điều kiện thuận lợi cho Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc đánh chiếm hai tỉnh Quảng Đông vả Quảng Tây, góp phần vào việc giành thắng lợi cuối cùng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đưa đến sự ra đời của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào ngày 1/10/1949.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn bộ đội tình nguyện Việt Nam rằng: “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình” . Do đó, vào ngày 7/1/1979, từ lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và nhân dân Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả là giúp dân tộc Campuchia giải phóng khỏi ách thống trị của tập đoàn Pol Pot, những kẻ đã cướp đi sinh mạng của gần 1/4 dân số Campuchia lúc đó. Ngày 8/1/1979, Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia thành lập và đề nghị Quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia truy quét tàn quân Pol Pot, củng cố chính quyền cách mạng. Mười năm sau, vào năm 1989, khi đã giúp đỡ chính quyền bạn đứng vững vàng, Quân tình nguyện Việt Nam mới rút khỏi Campuchia về nước, hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Hàng vạn Quân tình nguyện Việt Nam đã ngã xuống cho đất nước Campuchia được hồi sinh. Trung tướng Khuất Duy Tiến nhớ lại: “Những người lính Việt Nam đã thực sự đồng cảm với nỗi đau của nhân dân Campuchia như với chính đồng bào ruột thịt của mình”.
Quốc vương Campuchia Norodom Sihanouk từng nhận định: “Nếu Việt Nam không đánh đuổi bọn Pol Pot thì tất cả mọi người Campuchia có thể đã bị chết. Khmer Đỏ có thể đã giết chết tất cả chúng ta... chúng ta có thể nói rằng Đảng Nhân dân Campuchia không mắc sai lầm khi đề nghị Việt Nam giúp đỡ chống Khmer Đỏ, bởi vì nếu chúng ta không được giải phóng khỏi bọn Pol Pot thì toàn dân tộc có thể đã bị tiêu diệt”.
Ngày 2/1/2012, khi đến Đồng Nai dự lễ khánh thành di tích lịch sử Sư đoàn 125, tiền thân của lực lượng vũ trang đoàn kết cứu nước Campuchia, Thủ tướng Campuchia Hun Sen trả lời báo chí rằng: “Chúng tôi gọi bộ đội tình nguyện Việt Nam là đội quân của Tiên, của Phật. Nhân dân Campuchia theo đạo Phật và tin Tiên, Phật có thể giúp đỡ được mọi người. Khi khó khăn sắp chết thì chắp tay khấn Phật, Tiên cứu giúp mà lại có đơn vị bộ đội Việt Nam thì rõ ràng bộ đội Việt Nam là lực lượng của Tiên, của Phật rồi”. Thủ tướng Campuchia Hun Sen nhấn mạnh: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay trở lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và quân đội Việt Nam!”. 



Cùng chuyên mục