Quay lại

Phát huy tài nguyên du lịch, thúc đẩy liên kết vùng hướng tới phát triển Du lịch bền vững vùng Tây Nam Nghệ An

TS. Triệu Thanh Quang  |   9/1/2024

1. Đặt vấn đề Phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam được hiểu là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai (Luật Du Lịch, 2017). Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch bền vững các nhà nghiên cho rằng cần đảm bảo một số nguyên tắc nhất định. Đặc biệt là việc sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, vừa phát huy hiệu quả tài nguyên du lịch, vừa giảm thiểu sự tiêu thụ quá mức tài nguyên đồng thời duy trì bảo tồn sự đa dạng của tài nguyên thiên nhiên, xã hội và nhân văn (Gutierrez và các cộng sự, 2005). Ở Việt Nam, tài nguyên du lịch được định nghĩa là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở cho việc hình thành các sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch (Luật Du Lịch, 2017).

Để có thể khai thác một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ đòi hỏi việc đánh giá tiềm năng, thế mạnh ở mỗi địa phương mà còn phải đặt chúng trong mối quan hệ với vùng mà địa phương đó chia sẻ nguồn tài nguyên này cũng như nhu cầu thị trường của cả vùng.
Trong khoa học về phát triển vùng, liên kết vùng (liên kết nội vùng và liên vùng) giữ vai trò trung tâm và là chìa khóa nhằm khai thác tối ưu lợi thế tương đối của các địa phương trong vùng cũng như lợi thế của cả vùng trong mối quan hệ với các vùng khác. Trong phát triển du lịch, liên kết vùng cho phép khai tác những lợi thế của từng địa phương tham gia liên kết về tài nguyên du lịch, về vị trí trong vùng, tuyến du lịch và về hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Qua đó liên kết vùng du lịch tạo nâng cao sức cạnh tranh của vùng trong cung cấp các sản phẩm du lịch, thu hút đầu tư, thu hút khách đến vùng du lịch với tư cách là một điểm đến thống nhất.
Vùng Tây Nam Nghệ An (với các huyện Thanh Chương - Anh Sơn - Con Cuông - Tương Dương - Kỳ Sơn) là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt về kinh tế, chính trị và quốc phòng an ninh của Tỉnh Nghệ An và là khu vực có nhiều tiềm năng cho phát triển vùng, liên kết vùng trong đó có du lịch. Với hơn 390 km đường biên giới trên bộ với nước bạn Lào. Trong đó, phía Tây Bắc có huyện Kỳ Sơn tiếp giáp với tỉnh Hủa Phăn (Lào), phía Tây Nam có các huyện Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn tiếp giáp tỉnh Borikhamxay (Lào) (UBND tỉnh Nghệ An, 2023). Vùng còn có Khu Dự trữ Sinh Quyền thế giới được UNESCO công nhận năm 2007 có diện tích lớn nhất khu vực Đông Nam Á với trung tâm là Vườn quốc gia Pù Mát nằm trên địa giới hành chính của 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương (Vườn Quốc gia Pù Mát, 2023). Nơi đây là trung tập đang lưu giữ nhiều nguồn gen quý về động, thực vật, đặc biệt là dược liệu, đồng thời là nơi giàu có về đa dạng văn hóa các dân tộc thiểu số và các tri thức bản địa đầy tiềm năng cho sự phát triển các loại hình du lịch văn hóa trải nghiệm và du lịch sinh thái. Tuy vậy, phát triển du lịch Vùng Tây Nam hiện nay vẫn được đánh giá là phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh vốn có của vùng nhất là việc đảm bảo phát triển theo hướng bền vững. Để đưa ra các định hướng giải pháp nhằm phát huy một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch của vùng Tây Nam Nghệ An, bài viết này sử dụng cách tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và những phân tích về xu thế du lịch trong thời gian tới nhằm thúc đẩy phát triển du lịch bền vững ở vùng Tây Nam Nghệ An.
2. Tài nguyên du lịch vùng Tây Nam Nghệ An
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của một điểm đến là những yếu tố được xác định trong phạm vi môi trường mà khách du lịch thích tại một điểm đến. Theo đó, tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm khí hậu, thảm động - thực vật, phong cảnh. Đây là các yếu tố quan trọng đối với khách du lịch gắn với nhiều loại hình du lịch khác nhau. 
Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An là một nguồn tài nguyên vô giá cho sự phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch sinh thái nói riêng của vùng. Được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới tháng 9 năm 2007, với tổng diện tích 1.303.285 ha, Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An được biết đến như khu dự trữ sinh quyển lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Theo Nguyễn Văn Sinh (2021), những giá trị nổi bật của nó thể hiện chỗ nó tạo ra một hành lang xanh kết nối 03 vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển gồm: Vườn Quốc gia Pù Mát (nơi nằm trong địa giới hành chính của Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương); Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống bao gồm lâm phần của 12 xã thuộc 5 huyện trong đó có Tương Dương và Con Cuông; Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt. Do đó tạo nên sự liên tục về sinh cảnh, duy trì hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học. Và khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An còn có tính đa dạng sinh học rất cao với 3 vùng lõi là các khu rừng đặc dụng đại diện cho các kiểu rừng nhiệt đới với ít nhất 1.297 loài thực vật và có 132 loài động vật lớn nhỏ đã được ghi nhận, trong đó có một số loài đặc biệt quý hiếm như: Voi, Sao La, Hổ, Thỏ vằn trường sơn...; 361 loài chim; 86 loài lưỡng cư và bò sát; 83 loài cá, 39 loài dơi và 459 loài bướm.

Bên cạnh quy mô và sự đa dạng sinh học trong không gian khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An, tài nguyên du lịch của vùng còn bao gồm cảnh đẹp tự nhiên của khu vực, đặc biệt ở một số điểm chính như:
Vườn Quốc gia Pù Mát (Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương)
Con Cuông có Thác Kèm, Đập Phà Lài, Khe nước Mọc,
Thanh Chương có Thác Liếp, Thác Cây Trám, Thác Lụa, hồ Sông Rộ, Đảo chè (Đập Cầu Cau)
Anh Sơn có vực Bụt, Sông Giăng - bản Vều
Tương Dương có Hồ Thủy điện Bản Vẽ, Rừng săng lẻ, Khe Cớ
Kỳ Sơn có cổng trời Mường Lống, Đỉnh Pu Xai Lai Len.
Ngoài ra vùng Tây Nam Nghệ An còn có những điểm cao như Pù Hoạt, Pa Khăm, Pu Xai Lai Len, Pù Đen Đin, Pù Mát có thể được khai thác trong các hoạt động du lịch gắn liền với nghiên cứu.
Tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch văn hóa được hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người tạo ra có thể được sử dụng gắn liền với hoạt động du lịch. Theo đó, tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm các di sản văn hóa, truyền thống lịch sử, đặc trưng kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật truyền thống, âm nhạc, thủ công mỹ nghệ…
Vùng Tây Nam Nghệ An có nhiều nhóm dân tộc thiểu số sinh sống với những nét văn hóa đặc trưng là nguồn tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng cho sự phát triển của vùng. Theo Tổng điều tra Dân số (2019), vùng Tây Nam Nghệ An là nơi sinh sống của 8 các nhóm dân tộc chính gồm: Kinh, Thái, H ‘Mông, Tày Pọng, Ơ Đu, Khơ Mú, Đan Lai, Hoa, Mường . Những đặc trưng văn hóa của các nhóm dân tộc cùng với địa bàn cư trú của họ tạo nên những nét riêng biệt có thể khai thác cho hoạt động du lịch như các lễ hội truyền thống trong vùng như Lễ hội Đền Vạn - Cửa Rào (Tương Dương), Lễ hội Pu Nhạ Thấu (Kỳ Sơn), Lễ hội Đền Bạch Mã (Thanh Chương); kiến trúc và ẩm thực của người Thái, người Mường; nghề thủ công của người Khơ Mú, người Mường; hoa văn và trang phục của người Mường, người Thái, người H’Mông. 
Đặc biệt có 02 dân tộc chỉ duy nhất ở Nghệ đó là dân tộc Ơ Đu (Còn khoảng 570 nhân khẩu ở Tương Dương) và dân tộc Đan Lai (còn khoảng 3000 nhân khẩu ở Con Cuông) (Nguyễn Văn Sinh, 2021) cũng sẽ là những nguồn tài nguyên du lịch văn hóa quan trọng cho phát triển các sản phẩm du lịch văn hóa trải nghiệm gắn với bảo tồn văn hóa của những nhóm dân tộc thiểu số ít người.
Cùng với sự đa dạng về văn hóa, tài nguyên nhân văn cũng là một nguồn tài nguyên du lịch ở Tây Nam Nghệ An. Tài nguyên này gắn liền với truyền thống hiếu học, nhiều dòng họ, nhiều làng học nổi tiếng với rất nhiều đền, chùa, nhà thờ họ được công nhận là di tích cấp quốc gia, cấp tỉnh phủ khắp các vùng quê ở Tây Nghệ An.
Ngoài ra, Nghệ An như là một trong địa phương, cùng với Hà Tĩnh được coi là quê hương của dân ca ví, giặm - Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO công nhận năm 2014. Loại hình nghệ thuật này cũng sẽ là một nguồn tài nguyên văn hóa quý báu có thể khai thác trong các loại hình du lịch tại Tây Nam Nghệ An.

Ảnh nguồn baodantoc.vn

Nghiên cứu sơ bộ trên cho thấy, nguồn tài nguyên du lịch của vùng Tây Nam Nghệ An là rất lớn và có thể là cơ hội cho phát triển một số loại hình du lịch cơ bản như du lịch sinh thái gắn du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch văn hóa gắn với du lịch cộng đồng. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư. Trong khi đó, Theo Viện Nghiên cứu Sức khỏe Toàn cầu (2014) du lịch chăm sóc sức khỏe là loại hình du lịch kết hợp với việc duy trì hoặc tăng cường sức khỏe cá nhân. Hai loại hình này loại hình này có thể khai thác hiệu quả những tiềm năng về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là khu dự trữ sinh quyển vùng Tây Nghệ An.
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch trong đó mục đích cơ bản của du khách là tìm hiểu, khám phá, trải nghiệm và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa vật thể và phi vật thể tại các điểm đến du lịch (UNESCO, 2017). Du lịch cộng đồng là mô hình phát triển du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương. Du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng gắn với các điểm du lịch trong vùng có lợi thế nhằm khai thác các nét đặc trưng văn hóa của các nhóm dân tộc trong vùng Tây Nam Nghệ An.
3. Xu hướng du lịch sinh thái, du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch văn hóa
Những nghiên cứu về xu hướng du lịch trên thế giới và Việt Nam đến năm 2030 cho thấy, xu hướng du lịch sinh thái, du lịch chăm sóc sức khỏe và du lịch văn hóa trải nghiệm ngày càng trở nên phổ biến.
Xu hướng du lịch sinh thái, du lịch sinh thái cộng đồng, du lịch xanh là một su hướng có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây. Theo Viện Nghiên cứu Du lịch (2023), Du khách bắt đầu tìm kiếm cách đi du lịch bền vững hơn để giảm tác động đến môi trường và cộng đồng địa phương như tái chế nhựa, giảm lượng rác thải và mức tiêu thụ năng lượng trong chuyến đi hay sử dụng các loại hình giao thông thân thiện với môi trường và hy vọng ngành du lịch có thể cung cấp nhiều lựa chọn du lịch bền vững hơn. Du lịch sinh thái có thể chỉ đơn giản như việc đảm bảo sự sẵn có của tín chỉ carbon khi đặt chuyến bay hoặc tùy chọn thuê xe điện thay vì phương tiện giao thông đi lại thông thường, hay phức tạp hơn như lồng ghép yếu tố hoạt động tình nguyện, làm việc trong khu bảo tồn thiên nhiên.
Du lịch chăm sóc sức khỏe đã xuất hiện từ lâu và ngày nay đã trở thành một xu hướng của du lịch thế giới, đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng. Nhiều chuyên gia trên thế giới đã dự báo trong thời gian tới xu hướng du lịch sẽ có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt với những chuyến du lịch dài ngày của du khách sẽ không còn là những chuyến đi du lịch tham quan đơn thuần mà thay vào đó là hình thức du lịch tận hưởng kết hợp chăm sóc, cải thiện sức khỏe. Du lịch chăm sóc sức khỏe đã trở thành loại hình du lịch phổ biến và phát triển ở một số quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia…
Theo báo cáo của Global & Wellness Institute (2018) năm 2017 ngành Du lịch sức khỏe toàn cầu đạt giá trị 639 tỷ USD và sẽ đạt mức 919 tỷ USD vào năm 2022. Trung bình, cứ 6 đô la Mỹ chi tiêu cho du lịch trên toàn cầu thì 1 đô la Mỹ thuộc về thị trường chăm sóc sức khỏe. Trong vòng 5 năm qua, châu Á dẫn đầu về cả số lượng chuyến đi lẫn doanh thu du lịch chăm sóc sức khỏe. 
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đính (2022) cho thấy, du lịch y tế cực kỳ phát triển trên thế giới. Nhiều quốc gia trên thế giới sớm nhận biết hướng mới trong ngành du lịch và lợi dụng ưu thế để phát triển du lịch sức khỏe. Tiêu biểu là Nhật Bản với thế mạnh về spa khoáng nóng, Indonesia với resort giữa thiên nhiên, Ấn Độ với thiền, yoga… Khu vực phát triển nhanh và thành công nhất hình thức du lịch Wellness Tourism (Du lịch chăm sóc sức khỏe) chính là châu Á. Có thể nói, nếu duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng như hiện tại, Wellness tourism (WT) sẽ chiếm được gần 20% tỷ trọng của ngành du lịch toàn cầu. Tổ chức Global Spa and Wellness Summit còn cho hay thị phần của WT đang tăng nhanh hơn 50% tỷ lệ phát triển du lịch toàn cầu. Điều này chứng tỏ, xu hướng du lịch WT đã trở nên phổ thông hơn, đại chúng hơn, với lượng khách du lịch ngày càng đông hơn. Tại khu vực Đồng Nam Á, du lịch chăm sóc sức khỏe cũng đang nổi lên như một xu hướng phát triển mạnh mẽ. Cụ thể như: Thái lan, du lịch sức khỏe năm 2020 mang lại 4,7 tỷ USD cho Thái Lan với 6.5 triệu chuyến du lịch sức khỏe. Đưa Thái Lan trở thành nước đứng thứ 5 toàn cầu về du lịch sức khỏe; với Singapore, Singapore Medicine (Y tế Singapore) là một sáng kiến của các cơ quan Chính phủ nhằm mục đích đưa Singapore trở thành một điểm đến hàng đầu đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), trong bối cảnh hậu Đại dịch Covid-19, khu vực nông thôn - miền núi - thiên nhiên có nhiều cơ hội để phục hồi ngành du lịch, khi du khách tìm kiếm những điểm đến mới, vắng người, trải nghiệm không gian thoáng rộng và hoạt động ngoài trời. Phát triển du lịch có trách nhiệm, du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng vừa là xu hướng vừa là đòi hỏi tất yếu đối với ngành du lịch để thực hiện nguyên tắc và mục tiêu phát triển bền vững. Khách hàng sẽ có xu hướng lựa chọn những điểm đến có lợi thế về du lịch hướng về thiên nhiên, nghỉ dưỡng, thư giãn, làm đẹp và chăm sóc sức khỏe. Theo dự báo du lịch gắn với sức khỏe sẽ tăng trưởng mạnh mẽ đến năm 2030, khách du lịch đi với mục đích thăm viếng, sức khỏe, tôn giáo sẽ chiếm 31% tổng lượng khách du lịch; với mục đích thăm quan, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí chiếm 54%; với mục đích công việc và nghề nghiệp chiếm 15% (Nguyễn Thanh Bình, 2022).
Báo cáo phân tích thị trường du lịch văn hóa giai đoạn 2023 - 2027 của Technavio (2022), thị trường du lịch văn hóa ước tính sẽ tăng trưởng với tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 20,77% từ năm 2022 đến năm 2027. Quy mô của thị trường được dự báo sẽ tăng thêm 6.600,7 triệu USD. Theo đó, một trong những động lực chính thúc đẩy du lịch văn hóa là sự tăng lên thu nhập đặc biệt ở một số nước thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, cụ thể như Malaysia, Indonesia, và Việt Nam, đưa khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trở thành khu vực có tỷ lệ tăng trưởng du lịch văn hóa lên hàng đầu. Xu hướng phát triển du lịch văn hóa gia tăng còn bởi các yếu tố ảnh hưởng đến căng thẳng trong cuộc sống cá nhân và việc chăm sóc sức khỏe. Báo cáo cho rằng, trong nhiều trường hợp căng thẳng không được điều trị có thể dẫn đến trầm cảm, có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch, làm cơ thể kiệt sức và thể chất và tinh thần. Các chuyên gia y tế cho rằng đi du lịch hoặc đến thăm một nơi mà người ta có thể cảm thấy bình yên trong tâm hồn giúp điều trị căng thẳng và lo âu. Sự thay đổi bầu không khí và thoát ra khỏi lối sống hàng ngày có thể sẽ chữa lành vết thương một cách nhanh hơn. Điều này dẫn đến cơ hội cao cho các nhà cung cấp dịch vụ du lịch văn hóa nhắm đến những du khách đến vì mục tiêu chăm sóc sức khỏe. 
4. Định hướng phát triển du lịch Vùng Tây Nam Nghệ An
Định hướng phát triển du lịch vùng Tây Nam Nghệ An được thể hiện trong các chủ trương, chính sách phát triển của Trung ương dành riêng cho Nghệ An, các chủ trương, cơ chế chính sách phát triển kinh tế xã hội do tỉnh Nghệ An và 5 huyện trong vùng ban hành. Theo đó, du lịch được xem là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của vùng và của mỗi huyện.
Quy hoạch Phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 xác định phương hướng phát triển của ngành du lịch là: “Phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng, hiệu quả; đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (du lịch thông minh)”. Trong phương án phát triển, sản phẩm dụ lịch văn hóa - lịch sử, tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, mạo hiểm gắn với cộng đồng được xác định là sản phẩm du lịch đặc thù của tỉnh. Du lịch trải nghiệm lối sống cộng đồng các dân tộc thiểu số tại các bản làng dân tộc vùng miền tây, du lịch nông thôn, du lịch chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe được xem là các sản phẩm du lịch tiềm năng của tỉnh.
Những quan điểm định hướng này cho thấy, phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch văn hóa gắn với du lịch cộng đồng là phù hợp với những định hướng phát triển chung của tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng cho việc triển khai các giải phát nhằm phát huy tiềm năng tài nguyên du lịch, liên kết du lịch vùng hướng tới sự phát triển bền vững vùng Tây Nam Nghệ An.
5. Các giải pháp phát huy tiềm năng tài nguyên du lịch hướng tới phát triển du lịch bền vững vùng Tây Nam Nghệ An
Một là, tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là các nhóm dân tộc thiểu số về tài nguyên du lịch về giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn liền với tài nguyên du lịch. Một trong những yêu cầu của giải pháp này là chuyển những giá trị của tài nguyên du lịch (thiên nhiên và văn hóa truyền thống) thành niềm tự hào, là tài sản cho các hoạt động phát triển của cộng đồng và là cơ hội trong các hoạt động hợp tác phát triển với các nhà đầu tư, các nhà tài trợ.
Hai là, rà soát, đánh giá đầy đủ các tài nguyên du lịch trong vùng đặc biệt là các tài nguyên phi vật thể, những giá trị văn hóa, câu chuyện văn hóa của chúng để có chiến lược khôi phục, bảo tồn, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc thiểu số trên từng địa bàn. Đặc biệt là văn hóa của các cộng đồng dân tộc thiểu số ít người (Ở Đu và Đan Lai). Để thực hiện các giải pháp này cần huy động sự tham gia của các nhà nghiên cứu văn hóa, các nghệ nhân, các cộng đồng và đơn vị cung cấp dịch vụ du lịch. Đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng và các nghệ nhân địa phương.
Ba là, trên cơ sở rà soát tài nguyên du lịch của các địa phương trong vùng, xây dựng các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch văn hóa gắn với cộng đồng đặc thù của mỗi địa phương khai thác, tôi ưu các lợi thế tương đối của mỗi vùng. Đồng thời hình thành các tour, tuyến, cung đường du lịch phù hợp, đặc trưng, tránh trùng lặp các sản phẩm trong cùng một tour, tuyến du lịch.
Bốn là, khuyến khích các nhà đầu tư xây dựng các sản phẩm du lịch văn hóa gắn với bảo tồn và phát triển văn hóa. Ở cấp cộng đồng, khuyến khích phát triển không gian du lịch cộng đồng gắn với trình diễn và trải nghiệm văn hóa trong những cộng đồng cụ thể trong đó cộng đồng đóng vài trò là chủ từ lập kế hoạch tới tổ chức thực hiện. Để làm được cần xây dựng cơ chế thu hút sự tham gia của cộng đồng. Việc thực hiện đúng sẽ bảo đảm lợi ích của cộng đồng được tích hợp tốt trong toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển du lịch di sản văn hóa. Đồng thời, tạo cơ chế liên kết giữa đại diện Nhà nước với khu vực tư nhân theo mô hình tham gia, đại diện, góp vốn, tham gia trong tư vấn hoạch định chính sách phát triển hệ thống chuỗi cung ứng sản phẩm du lịch di sản văn hóa nói riêng và hoạch định chính sách phát triển các sản phẩm du lịch di sản văn hóa nói chung; quỹ phát triển, quỹ xúc tiến du lịch di sản văn hóa...
Năm là, trong quá trình phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa đánh giá các tác động của du lịch đối với việc phát triển cộng đồng bền vững. Khuyến khích phát triển các mô hình du lịch xanh, du lịch áp dụng nguyên lý của kinh tế tuần hoàn bảo vệ môi trường ở tất cả các quy mô và loại hình du lịch.
Sáu là, kiểm soát việc thực hiện quy hoạch đảm bảo phát triển du lịch xanh, du lịch sinh thái thông qua các quy chế về việc bảo tồn và phát triển tài nguyên du lịch ở một số vùng sinh thái tiêu biểu. Trong đó cân nhắc các biện pháp kỹ thuật như sức chưa du lịch để đưa ra các giải pháp đảm bảo việc bảo tồn khu dự trữ sinh quyển, đồng thời phát triển cộng đồng bền vững đồng thời đảm bảo lợi ích của cộng đồng.
(Tham luận tại Hội thảo khoa học "Luận cứ phát triển kinh tế vùng Tây Nam Nghệ An" tổ chức ngày 30/10/2023)

Tài liệu tham khảo
1. Global & Wellness Institute. (2018). Global Wellness Economy Monitor.
https://globalwellnessinstitute.org/wpcontent/uploads/2019/04/GWIWellnessEconomyMonitor2018_042019.pdf
2. Gutierrez, E., Lamoureux, K., & Matus, S. (2005). Linking Communities,
3. Tourism, & Conservation: A Tourism Assessment Process-Tools and Worksheets. Conservation International and the George Washington University.
4. Luật Du Lịch, 09/2017/QH14 (2017). https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-du-lich-2017-322936.aspx
5. Nguyễn Thanh Bình. (2022). Du lịch Chăm sóc sức khỏe - Ý nghĩa, xu hướng và sự khác biệt với du lịch y tế. Hội thảo phát triển du lịch chăm sóc sức khỏe.
6. Nguyễn Văn Đính. (2022). Bàn về du lịch chăm sóc sức khỏe, du lịch y tế ở Việt Nam. Hội Thảo phát triển Du lịch chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam.
7. Nguyễn Văn Sinh. (2021). PHO - Khai thác lợi thế của Khu dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững. http://beta.puhoat.vn/news/27030p0c176/khai-thac-loi-the-cua-khu-du-tru-sinh-quyen-mien-tay-nghe-an-cho-cong-tac-bao-ton-va-phat-trien-ben-vung.htm
8. Technavio. (2022). Cultural Tourism Market by Type, Service, and Geography-Forecast ad Analysis 2023-2027. https://www.technavio.com/report/cultural-tourism-market-industry-analysis
9. UBND tỉnh Nghệ An. (2023). Giới thiệu tổng quan về tỉnh Nghệ An. http://nghean.gov.vn/tiem-nang-xu-nghe/gioi-thieu-tong-quan-ve-tinh-nghe-an-224798
10. UNESSCO. (2017). Sustainable tourism strategy: Cultural Landscape of Bali Province: The Subak System as a Manifestation of the Tri Hita Karana Philosophy. https://unesdoc.unesco.org/ark:/48223/pf0000260977
11. Viện Nghiên cứu Du lịch. (2023). Một số xu hướng mới trong tiêu dùng du lịch sau đại dịch Covid 19 tại Việt Nam. Kỷ Yếu Hội Thảo Nghiên Cứu Những Xu Hướng Du Lịch Mới Sau Đại Dịch Covid -19. Nghiên cứu những xu hướng du lịch mới sau đại dịch Covid -19, Hà Nội.
12. Vườn Quốc gia Pù Mát. (2023). Vườn quốc gia Pù Mát - Vườn quốc gia Pù Mát. https://pumat.vn/


Cùng chuyên mục