Quay lại

Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVII - XIX và những đóng góp của Dòng họ Nguyễn Trọng - Trung Cần

TS Lê Thùy Linh - TS Nguyễn Văn Bảo  |   9/1/2024

1. Bối cảnh lịch sử thế kỷ XVII - XIX Lịch sử Đại Việt thế kỷ XVII - XIX trải qua những bước thăng trầm, về cơ bản có thể được phân chia thành các giai đoạn với tính chất đối lập: phân chia cát cứ nhưng có sự phát triển trong thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XVIII, khủng hoảng từ nửa cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX và thống nhất, ổn định kể từ khi Gia Long lên ngôi lập ra vương triều Nguyễn. Điểm chung xuyên suốt trong các thế kỷ này là sự tồn tại của chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn, sau là vương triều Nguyễn ở Đàng Trong. Điểm đặc biệt đan xen vào dòng mạch chính của sự phân chia này là sự xuất hiện của nhà Tây Sơn, thời gian tuy ngắn nhưng góp phần đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam hậu kỳ trung đại.

Mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến dẫn đến hiện tượng đất nước bị chia cắt. Vùng đất từ sông Gianh trở ra Bắc được gọi là Đàng Ngoài (Bắc Hà) do chính quyền Lê - Trịnh cai trị. Vùng Thuận - Quảng được gọi là xứ Đàng Trong (Nam Hà) do chúa Nguyễn cai quản. Tàn dư của họ Mạc vẫn rải rác ở các địa phương và tiến hành xây dựng một số thành quách ở Hải Dương, An Quảng (Quảng Yên), Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Theo ghi chép của giáo sĩ Alexandre Rhode, người trong nước gọi vùng kiểm soát của họ Mạc ở vùng miền núi thượng du giáp ranh với Trung Quốc là xứ của chúa Canh(1). Gia quốc công Vũ Văn Mật - người có công giúp nhà Lê - Trịnh đánh Mạc trong buổi đầu trung hưng - chiếm giữ vùng Đại Đồng (Tuyên Quang), xây thành Việt Tĩnh, nhân dân thường gọi là “Chúa Bầu” và “thành Bầu”. Cha truyền con nối, con cháu của Gia quốc công tiếp tục giữ trấn Tuyên Quang. Tuy nhiên, đến thời người cháu tằng tôn là Vũ Công Đắc lại không sửa lễ cống theo chức phận mà kết bè đảng với họ Mạc, tự xưng vương, lập triều đường.

Con cháu dòng họ Nguyễn Trọng - Trung Cần chụp ảnh lưu niệm nhân dịp Lễ rước tượng ba vị danh nhân - tiến sĩ: Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đương, Nguyễn Trọng Đường về Bảo tàng tổng hợp Nghệ An

Trái ngược với sự nhất quán ở Đàng Trong, thể chế chính trị ở Đàng Ngoài tương đối phức tạp, các sử gia gọi là “thể chế lưỡng đầu”, “lưỡng đầu chế” (diarchy) và được coi là sản phẩm đặc biệt của lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam trong các thế kỷ này(2). Theo đó, quyền lực thực sự tập trung trong tay các chúa Trịnh. Họ Trịnh thế tập, nắm mọi quyền hành quyết định công việc quốc gia, hoàng gia mỗi ngày một suy yếu dần(3). Họ Trịnh lập Vương phủ và cũng xây dựng các cơ quan tương tự như của triều Lê. Đến năm Mậu Tuất (1718), Trịnh Cương cho lập đủ 6 phiên: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công, tương ứng với Lục bộ của triều đình, thực tế là thâu tóm quyền hành về phủ chúa. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: “Từ đây, chính quyền trong nước về hết Lục phiên, mà Lục bộ(4) và Lục tự(5) chỉ đặt cho đủ vị mà thôi”(6). Trong “Lịch triều hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú nhận xét: “Nhà Lê đời Trung hưng về sau, chúa Trịnh giữ quyền, đời đời nối nhau tước vương, cho nên có lễ sách phong nguyên soái. Từ Bình An vương trở xuống, tám đời nối nhau làm Chúa cho đến khi nhà Lê mất”(7). Samuel Baron - một người con lai từng sinh sống của Đàng Ngoài nhiều năm, am hiểu bối cảnh Đàng Ngoài cũng khẳng định mọi quyền hành đều do chúa nắm, từ việc quyết định chiến tranh hay hòa bình, ra luật và hủy luật, quyền lên án và ân xá phạm nhân, phong chức hoặc bãi nhiệm quan tòa, tướng lĩnh quân đội, lệnh thu thuế, lệnh phạt…(8).
Ở Đàng Ngoài, nhà Trịnh tiếp tục phát huy được vai trò tích cực của mình, còn ở phương Nam, chúa Nguyễn có nhiều chính sách cởi mở cả về kinh tế, ngoại giao. Bên cạnh đó, cuộc nội chiến kéo dài ngót 50 năm giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong đã đặt ra yêu cầu đối với cả hai bên về việc xây dựng tiềm lực kinh tế, quân sự vững mạnh nhằm mục tiêu giành thắng lợi trong cuộc chiến “nồi da nấu thịt” kéo dài dai dẳng. Đối với chính quyền vua Lê-chúa Trịnh, yêu cầu xây dựng lực lượng vững mạnh càng khẩn thiết hơn bởi còn phải chống lại sự phản ứng của họ Mạc và dẹp yên thế lực của Vũ Công Đắc. Nhu cầu khí tài chiến tranh phục vụ cho cuộc chiến cũng là động lực để cả chính quyền Lê - Trịnh và chúa Nguyễn tăng cường giao thương với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới trong 2 thế kỷ này. Vì vậy, nền kinh tế Đại Việt nói chung có bước tiến bộ không thể phủ nhận trong các thế kỷ XVII - XVIII trên tất cả các lĩnh vực nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp, đặc biệt là mối quan hệ giao thương với nước ngoài được mở rộng. 
Tuy nhiên, sự hưng thịnh kinh tế, vững mạnh về chính trị của Đại Việt chỉ duy trì được trong khoảng hơn 1 thế kỷ. Từ nửa cuối thế kỷ XVIII, Đàng Ngoài lâm vào cuộc khủng hoảng trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội. Về chính trị, hình thái “lưỡng đầu chế”(9) không còn phát huy tác dụng như trước, mâu thuẫn nội tại giữa nhà Lê và họ Trịnh dần bộc lộ một cách rõ ràng, quyết liệt hơn. Về kinh tế, tình trạng tư hữu, nạn kiêm tính ẩn lậu ruộng đất diễn ra khá trầm trọng(10). Nhà nước không thể quản lý và kiểm soát làng xã một cách chặt chẽ nên địa chủ phong kiến chiếm đoạt ruộng đất công và tư, đặc biệt là của người dân phiêu tán. Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng phản ánh thực tế “các nhà quyền quý thế lực và bọn hào phú phần nhiều nhân nhân chỗ ruộng đất hiện có hoặc mua tậu của những dân nghèo xiêu giạt, lập thành trang trại chiêu mộ những người tứ chiếng đến quần tụ, làm chỗ nấp bóng che chở cho những kẻ trốn tránh tạm bợ để lẩn tránh thuế khóa sưu dịch. Những kẻ trộm cướp gian tà lấy đó làm nơi nương tựa ẩn nấp, để bao che tội ác ngoan ngạnh của chúng được thông rõ. Thậm chí những cư dân gần kề xung quanh, hễ thấy có việc sưu dịch nào đó thì liền lẩn vào trang trại để ẩn núp”(11). Các nhà sử học đánh giá đây là nguyên nhân cơ bản nhất, “là đầu mối của mọi mâu thuẫn trong xã hội phong kiến, là nguyên nhân chủ yếu đưa đến phong trào khởi nghĩa nông dân”(12).
Trong khi đó, trong vòng 10 năm đầu thế kỷ XVIII, thiên tai, lũ lụt, hạn hán diễn ra thường xuyên, không chỉ gây thiệt hại mà còn cản trở quá trình sản xuất của nhân dân khiến toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp bị đình đốn(13). Kinh tế thương nghiệp khởi sắc trong thế kỷ XVII nhưng đến nửa cuối thế kỷ XVIII, tình hình giảm sút nghiêm trọng. Các lực lượng thương nhân phương Tây từng có ảnh hưởng tích cực như Hà Lan, Anh, Pháp lần lượt rời bỏ thị trường Đàng Ngoài. Thiếu đi động lực từ hoạt động ngoại thương, nền sản xuất đình đốn nghiêm trọng hơn.
Những biến động trong chính trị, kinh tế dẫn đến hệ quả trực tiếp là những khủng hoảng trong xã hội Đàng Ngoài. Tình trạng đói kém mất mùa diễn ra ở nhiều nơi. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: năm Đinh Tỵ (1737), trộm cướp các xứ nổi lên như ong, để nhanh chóng truyền tin về triều, các lộ Sơn Tây và Thanh Hoa phải đặt đồn hỏa hiệu trên đỉnh núi, dân sở tại ngày đêm canh giữ cho thấy tình hình xã hội, chính trị bất ổn(14). Đỉnh cao của sự rối ren, khủng hoảng xã hội là khởi nghĩa nông dân bùng nổ khắp nơi. Thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XVIII, khởi nghĩa nông dân còn lẻ tẻ ở một số địa phương đồng bằng, miền núi nhưng từ nửa cuối thế kỷ XVIII, phong trào đã lan rộng khắp vùng Đàng Ngoài, tiêu biểu là khởi nghĩa của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh ở vùng Hải Dương, khởi nghĩa của Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương và đỉnh cao là phong trào nông dân Tây Sơn. Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn Phúc Thuần thích chơi bời múa hát, năm Kỷ Sửu lệnh cho các huyện lập 1 bạn du xuân, mỗi bạn 50 người, tiền thuế mỗi người 1 quan, để khi có hội hè thì làm trò vui đánh đu. Trước sự kiện trên, Lê Quý Đôn bình: “phóng túng như thế đấy!”. Hay thấy cảnh Chưởng thủy cơ Nguyễn Noãn thích uống rượu, “suốt ngày say sưa, việc đời không biết gì cả”; Hữu trung cơ Nguyễn Nghiễm có tới 120 vợ lẽ, buồng sau chứa đầy châu báu, mắm muối trăm vạn thạch, hồ tiêu ngoài 2 vạn hộc” mà không khỏi cảm thán: “Dùng người như thế, hỏi sao không mất nước!”. Trong khi đó, Quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền gây nhiều bất bình trong quần thần và nhân dân. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn phản ánh thực tế: Trương Phúc Loan “bán quan, buôn ngục, hình phạt và thuế má nặng nề”, “tham của, thấy lợi thì tranh trước, nhà chứa vàng bạc của cải vô số mà còn không vừa”, “chuyên quyền hơn 30 năm, tham lam tàn nhẫn, giết chóc rất nhiều…”(15). Chế độ thuế khóa nặng nề, hà khắc: “lệ phú thuế ở xứ Quảng Nam khác với xứ Thuận Hóa. Sự trưng thu so với Thuận Hóa nặng hơn, cho nên kho tàng thu vào rất nhiều, bổng lộc quan lại rất nhiều, mà dân địa phương ấy nổi loạn trước cả cũng vì cớ ấy”(16). Các cuộc nổi dậy tiêu biểu như của người Chăm ở Thuận Thành năm 1746, của Lý Văn Quang ở Đông Phố (Biên Hòa) năm 1747, của người Hơrê ở Quảng Ngãi năm 1770, khởi nghĩa của Lía (tức Võ Văn Doan) ở Truông Mây, xã Ân Đức, huyện Hoài Ân. Thực tế này đã thôi thúc anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa từ đất Tây Sơn thượng đạo. Dưới sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Huệ, phong trào Tây Sơn từ tính chất của một khởi nghĩa nông dân lật đổ chính quyền chúa Nguyễn, đánh đổ chính quyền Lê - Trịnh mục ruỗng lúc bấy giờ trở thành cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc với thắng lợi trước 5 vạn quân Xiêm xâm lấn năm 1784-1785 và 29 vạn quân Thanh năm 1788-1789. Năm Mậu Thân (1788), Nguyễn Huệ - vị lãnh tụ phong trào nông dân Tây Sơn làm lễ đăng quang, mở ra vương triều Tây Sơn trong lịch sử. Tuy nhiên, vương triều chỉ tồn tại 14 năm, trải 2 đời vua: Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung (1788 - 1791) và Quang Toản niên hiệu Cảnh Thịnh, Bảo Hưng (1793 - 1802). 
Sau khi vương triều Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh với sự nỗ lực khôi phục nhà Nguyễn, chiếm lại Gia Định và từng bước gây dựng lực lượng, tận dụng tối đa sự hỗ trợ của Pháp qua sự vận động tích cực của Bá Đa Lộc(17). Đến năm 1802, công cuộc khôi phục lại chính quyền trên phạm vi cả nước của Nguyễn Ánh kết thúc thắng lợi, đồng nghĩa với sự thất bại của vua Quang Toản, chấm dứt hoàn toàn vai trò của triều Tây Sơn.
2. Đóng góp của dòng họ Nguyễn Trọng - Trung Cần trong các thế kỷ XVII - XIX
2.1. Lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao
Họ Nguyễn Trọng quê gốc ở thôn Bến Nễ, xã Ước Lệ, huyện Hưng Nguyên chuyển cư sang làng Trung Cần, nay thuộc xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thủy tổ là Nguyễn Trọng Quyên, từng làm quan với chức Bác sĩ. Chi ở Trung Cần là 1 trong 10 chi họ Nguyễn Trọng trong cả nước. Trong các thế kỷ XVII - XIX, những người con tiêu biểu của dòng họ Nguyễn Trọng chi Trung Cần còn lưu danh tên tuổi đến ngày nay gồm có: 
Nguyễn Trọng Tuyền làm quan đến Viên ngoại lang bộ Lại, thời Vĩnh Thịnh (1706-1719), được phong Tham nghị xứ Lạng Sơn, tước Nam. 
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường (1681-1735) trải nhiều chức quan. Nội dung 8 đạo sắc phong hiện đang được dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần lưu giữ cho biết ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình, cụ thể như sau: Cẩn sự lang Giám sát Ngự sử đạo Hưng Hóa, Mậu lâm lang, Thanh hình Hiến sát sứ ty Hiến sát sứ của các xứ Lạng Sơn, Tiến công Thứ lang Công khoa Cấp sự trung, Mậu lâm lang Đông các Hiệu thư, Hiển cung đại phu Đông các học sĩ, Tu thận thiếu doãn xứ Sơn Tây, Hoằng Tín đại phu, Thượng bảo Tự khanh Tu thận doãn, Triều liệt đại phu Đông các Đại học sĩ Khuông mỹ thiếu doãn, Thừa chỉ, Trung trinh đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Khuông mỹ doãn, Hữu thị lang, đáng là Gia hạnh đại phu Hình bộ Hữu thị lang Tư chính khanh, bậc Trung ban(18).
Năm Giáp Dần, niên hiệu Long Đức thứ 3 (1734), mùa hạ, tháng 4, Đoàn Bá Dung làm Đô ngự sử (Nhập thị Bồi tụng), Cao Huy Trạc làm Tả thị lang bộ Lại, Nguyễn Trọng Thường làm Hữu Thị lang bộ Hộ(19). Sau khi được thăng chức, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách trong triều đình. Sau khi mất, ông được tặng Tả thị lang bộ Lại, tước Quận công(20). Đến triều Nguyễn có sắc phong cho ông là thần “Hộ quốc tý dân”.
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đương (Đang) (1724-1786) đảm nhiệm các chức Thiêm tri Hình phiên, Tri phủ(21), Hàn lâm Hiệu viện Hiệu thảo, Lạp Sơn bá, Phụng sai Đốc đồng xứ Kinh Bắc, Thự Tham chính sứ Thanh Hoa. Năm Ất Tỵ (1785), ông giữ chức Chánh Đốc thị Thuận Quảng, năm Bính Ngọ (1786), Thống tướng thất thủ trước quân Tây Sơn, ông tử trận, được truy phong Hữu thị lang, tước hầu. 
Tiến sĩ Nguyễn (Trọng) Đường (1746 - ?) làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo, Thanh hình Hiến sát sứ đạo Sơn Nam, Đốc học trấn Sơn Nam Thượng, tước Thanh Ngọc hầu, được thăng làm Quốc sử Toản tu nhưng ông cáo bệnh không nhận và qua đời năm Tân Mùi (1811). 
Nguyễn Cung làm Huấn tượng vệ Đô tri, kiêm Tử tỉ xá nhân, tước Văn Khê hầu. 
Nguyễn Nhân, làm quan đến Dương vũ Uy dũng công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng Kim ngô vệ Thự vệ sự, tước Đoan Thăng hầu. 
Nho Thần được chọn vào Quốc Tử giám là Quốc tử sinh Trung xá sinh 
Nguyễn Phì thi đỗ Sinh đồ (Tú tài). 
Nguyễn Thơm đi lính triều Lê là ưu binh giữ chức Thiên hộ. 
Nguyễn Xanh là ưu binh triều Lê, chức Tri Thiêm tổng. 
Nguyễn Cửu là ưu binh triều Lê, giữ chức Thiên hộ Tráng tiết Tướng quân, tước Hoa Trung bá. 
Nguyễn Trọng Lượng (đậu Tiến sĩ khoa Mậu Tý ?) làm quan Tri huyện Phù Ninh.
Nguyễn Trọng Võ (Vũ) là con trai của Nguyễn Trọng Đường làm quan dưới triều Nguyễn Gia Long, được cử đi sứ nhà Thanh (Trung Hoa)...(22)
Nguyễn Trọng Cung làm Tuần tượng vệ Đô tri. 
Nguyễn Trọng Khoan là võ quan, sau thăng lên Dương võ Uy dũng công thần Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân. 
Nguyễn Trọng Nhân giữ chức Dương võ Uy dũng công thần Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân (Đoàn Thắng hầu Nguyễn tướng quân)(23).
Thông qua chức quan của các nhân vật kể trên, có thể thấy được vị trí công việc mỗi người đảm trách và đóng góp vào hoạt động chính trị, quân sự của nhà nước lúc đương thời của những vị quan họ Nguyễn Trọng là đa dạng ở nhiều lĩnh vực, với cấp bậc, mức độ khác nhau. Trong đó, tiêu biểu là đóng góp của các Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đang (Đương), Nguyễn Đường. Theo Nghệ An ký, khi làm quan, Nguyễn Trọng Thường thể hiện được vai trò của một vị quan vì dân, vì nước: “Gia phả nhà ông chép: Tính ông đứng đắn, đôn hậu, trải làm quan ở Lạng Sơn, Sơn Tây, đến đâu cũng được dân ca tụng là rất tốt”(24). Các sử thần nhà Nguyễn ca ngợi: “Ông chỉ chuộng chính sự nhân từ đức huệ” cho thấy phẩm hạnh làm quan của ông. 
Thời kỳ làm Đốc trấn Lạng Sơn, Nguyễn Trọng Đang là người có công trong việc trùng tu đài Ngưỡng Đức trên ải Nam Quan. Ở vùng biên viễn, mối quan hệ giữa hai vùng đất giáp ranh luôn là vấn đề được nhà nước quan tâm. Ông không chỉ góp tài sức mình vào việc ổn định tình hình chính trị biên cương mà còn làm cho người Trung Quốc nể phục. Sách Đăng khoa lục viết: “việc quan chuộng nhân từ, những người Tàu ngụ ở Lạng Sơn cảm đức của ông, nên lập sinh từ để thờ và làm một bài văn Tụng đức ca để tụng ông. Bởi trước kia, người Thiều Châu ở Trung Quốc sang ta khai thác mỏ bạc. Hằng năm họ thu thập bạc đưa về Trung Quốc. Bọn phụ đạo ở biên giới rình khi họ ra khỏi bờ cõi thì đón đường cướp lấy, nhưng lại sợ việc bị phát giác thì phải tội, nên đưa một phần số bạc cướp được, đút lót cho các quan trấn, mà quan trấn cũng nhận. Đến nay họ đem 5 khối bạc đến biếu ông, ông nổi giận cự  lại và từ chối. Ông quyên bổng sửa chữa đài Ngưỡng Đức ở Cửa Quan. Văn bia nay vẫn còn”(25). Nội dung bài văn Tụng đức ca như sau: “Phượng bút tế mỹ, khắc thiệu tiền nhân, quyết đức nhược công, đường tất hữu bảo thế nhi tư nhân giả hồ! Nghi hồ đình tiền quế thụ, bất cận tam hòe ngũ quế kỷ dã”. Hựu viết: “Hạnh ngộ công như viễn năng nhĩ, trí tứ phương chi dân, tự tú phương chi hóa, giao dịch nhi thoái, các đắc sở kỳ. Phi thị dân như tử, kiến công như kiến phụ mẫu dã”.
Dịch nghĩa: 
“Bút phượng tốt đẹp, nối nghiệp tiền nhân, sáng đức như ông, tất đời được bảo hộ, mọi người được thấm ơn ông. Xứng đáng là những cây hòe, cây quế trước sân”. Lại có câu: “May được gặp ông khiến cho kẻ xa quy phục về gần, làm yên dân tứ phương, tụ hợp hàng hóa tứ phương, trao đổi với nhau ai về chốn nấy. Phải chăng là, ông coi dân như con, và dân gặp được ông như được gặp cha mẹ vậy”. 
Đài Ngưỡng Đức được nhận định là một công trình lịch sử khẳng định ý thức độc lập tự chủ của người Việt trước âm mưu thôn tính của các thế lực phương Bắc(26), đồng thời cũng thể hiện một phương thức ngoại giao trí tuệ của Nguyễn Trọng Đương đối với nước láng giềng hùng mạnh. Vì thế mà có câu ca ngợi ông: “Danh văn Bắc Đẩu, Đức trứ Nam bang, cái Trung Châu bút dã” (Tiếng tăm như sao Bắc Đẩu, đức lớn rạng trời Nam, ngọn bút trùm đất Trung Châu)(27).
Đóng góp nổi bật của những dòng họ Nguyễn Trọng - Trung Cần là trong lĩnh vực ngoại giao, trong 4 đời liên tiếp, dòng họ 5 lần có người thực hiện nhiệm vụ đi sứ. Người đầu tiên là Nguyễn Trọng Thường nghênh tiếp sứ Trung Quốc sang sách phong cho vua Lê Thuần Tông tại Lạng Sơn cùng Nguyễn Tông Quai, Đồng trung thư Nguyễn Đình Bảng, Nguyễn Đăng Cao ngày 13 tháng 8 năm Giáp Dần (tức ngày 10-10-1734)(28). Cùng năm đó, ông làm Chánh sứ sang tuế cống nhà Thanh: “Đời Lê Thuần Tông, năm Long Đức thứ 3 (1734), ông vâng mệnh đi sứ sang nhà Thanh, trở về đến Hán Khẩu thì mất”(29). Người thứ hai là Nguyễn Trọng Đương đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc) vào năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 38 (1777). Người thứ 3 là Nguyễn Đường làm Phó sứ, cùng Chánh sứ Hoàng Bình Chính, Phó sứ Lê Hữu Dụng sang tuế cống nhà Thanh(30). Hoàng đế nhà Thanh ban cho ông chức Lưỡng quốc Hàn lâm và bức đại tự gồm 4 chữ: “Tam Thế Sứ Hoa” thêu trên lá cờ bằng gấm đặc biệt, là hình thức ghi nhận một cách trang trọng dòng họ có ba đời đi sứ. Người phương Bắc có thơ rằng:
Ngũ vân Chi Thước khai hành điện,
Tam thế y quan bái thánh nhân.
Dịch nghĩa:
Hành cung Chi Thước huy hoàng mở,
Quan sứ ba đời gặp thánh nhân.
Đặt trong bối cảnh của lịch sử cổ trung đại Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta mới có thể hiểu hết được niềm vinh dự và trọng trách của sứ thần, đặc biệt là sứ thần một nước lớn như Trung Hoa. 
Dưới thời Nguyễn, vào triều Minh Mệnh (1820-1840), Nguyễn Trọng Võ/Vũ (con trai Nguyễn Trọng Đương) từng hai lần đi sứ sang Thanh: lần 1 vào năm Giáp Thân (1824) với trọng trách Giáp ất Phó sứ, lần 2 vào năm Bính Dần (1826) với chức trách Chánh sứ(31). Hiện nay tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn đang lưu giữ văn bản “Bang giao lục” (ký hiệu A. 691/1-2) nói về cuộc đi sứ của ông vào năm Minh Mệnh 7 (1826)(32). Về truyền thống ngoại giao và chính trị của dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, các sử thần triều Nguyễn viết: “người phương Bắc làm thơ tặng có câu rằng: “Tam thế y quan bái thánh nhân”, ý nói ba đời được mang áo mũ vào bái yết thánh nhân”. Bản triều, con Trọng Đương là Tham tri Trọng Võ hai lần phụng mệnh đi sứ, người phương Bắc tặng bài thơ có câu rằng: “Tứ thế ngũ hoàng hoa”, ý nói, bốn đời, mà năm lần có người sung “Hoàng hoa sứ”(33). Lễ bộ Tham tri Phan Huy Đề tặng Tham tri Nguyễn Trọng Võ câu đối:
Quốc thể ngũ niên trùng cống phỉ
Thư hương tam thế ngũ Hoàng hoa
Dịch nghĩa:
Vì nước năm năm hai chuyến sứ
Nghiệp nhà ba hệ năm lần vinh
Thời Tự Đức, Nguyễn Hữu Lập (đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Nhâm Tuất, 1862) được triều đình cử làm Chánh sứ sang nhà Thanh, khi trở về được thăng Tham tri bộ Binh, sung Cơ mật viện(34).
2.2. Đóng góp trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục
Ở đất Nghệ An, dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần nổi danh với truyền thống khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt, thành danh. Nhân dân xứ Nghệ có câu truyền khẩu: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa” và câu đối lại là “Ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà” chính là phản ánh thực tế đặc biệt của dòng họ Nguyễn Trọng chi Trung Cần. Việc đỗ đạt cao của 3 đời kế tiếp đã xây dựng nên một hiện tượng khoa bảng độc đáo và hiếm thấy không chỉ của Nghệ An mà còn cả nước lúc bấy giờ. Nhà thờ dòng họ Nguyễn Trọng có câu đối cho thấy truyền thống khoa bảng của dòng họ:
Thế tại Long Môn thanh giá trọng
Thân vi Hồng Lĩnh vũ nghi cao.
Dịch nghĩa:
“Thế vượt cửa Rồng (thi đậu tiến sĩ) danh giá hiển trọng
Thân (dòng họ) như Hồng Lĩnh uy nghi cao đẹp”(35). 
“Nhất môn hàn mặc truyển thi lễ
Lưỡng quốc giang sơn chí tính danh”.
Dịch nghĩa:
Nghiên bút một nhà truyền thi lễ
Non sông hai nước nhớ họ tên.
Người khai khoa của dòng họ Nguyễn Trọng ở Trung Cần là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường, đỗ khoa thi Nhâm Thìn (1712), niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 8, đời Lê Dụ Tông. Con trai ông là Nguyễn Trọng Đương đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng 30 (1769) đời Lê Hiển Tông. Nguyễn (Trọng) Đường (gọi Nguyễn Trọng Đương là chú) đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Thịnh khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40 (1779) đời Lê Hiển Tông. Dưới triều Nguyễn, đời vua Gia Long, Nguyễn Trọng Võ (con của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đương) thi đậu Hương cống. Thời Minh Mệnh có Nguyễn Trọng Dung (đổi tên là Ngọc) đậu Hương cống khoa Tân Tỵ (1821); Nguyễn Trọng Thiệu đậu Á nguyên thi Hương khoa Giáp Ngọ; Nguyễn Văn Giao đỗ Thám hoa khoa thi năm Quý Sửu niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853); Nguyễn Hữu Lập đỗ Hoàng giáp khoa thi năm Nhâm Tuất Tự Đức 15 (1862); Nguyễn Tư Tái đỗ Phó bảng khoa Giáp Thìn, niên hiệu Thành Thái 16 (1904)(36). 
Trong đó, có những nhân vật trực tiếp đóng góp vào nền giáo dục của nước nhà như Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường được cử làm Giám thí khoa thi Hội vào tháng 3 năm Long Đức thứ 2 (1733). Khoa thi này có 3000 người dự thi, lấy đỗ 18 người(37). Tiến sĩ Nguyễn (Trọng) Đường (1746 - ?) làm Đốc học trấn Sơn Nam Thượng. Nguyễn Văn Giao (1811-1863) dự thi Hương trường Nghệ đậu Giải nguyên 41 tuổi, thi Hội đậu Hội nguyên, thi Đình đậu Thám hoa nhưng ông không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo cho xứ Nghệ nhiều học trò thành đạt. Nguyễn Trọng Võ (Vũ) được triều đình Huế đã chọn làm Phó Đốc học thành Gia Định cùng Đốc học là Hàn lâm Tu soạn Nguyễn Đăng Sở vào tháng 3 năm Tân Tỵ (1821). Vua Gia Long từng nói với Thượng thư Hộ bộ Nguyễn Hữu Thận: “Người Gia Định vốn tính trung nghĩa nhưng ít học, cho nên phần nhiều tính hay tức khí với nhau. Nếu được bậc đại nho túc học làm thầy dạy bảo cho điều lễ nhượng thì dễ hoá làm thiện mà thành tài cũng nhiều đó”(38). 
Trong lĩnh vực văn học, các nhân vật dòng họ Nguyễn Trọng - Trung Cần để lại cho đời những áng thơ văn giá trị. Ngày nay, chúng ta được biết tác phẩm còn lại của Nguyễn Trọng Thường có 01 bài Dẫn cho tập sách Mặc Ông sứ tập, đề năm Đinh Dậu, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) và 5 bài thơ được chép trong tập Bi ký biểu văn tạp lục(39). Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Minh Tường, “hiện nay tác phẩm thơ văn của ông còn ở đâu đó, mà chúng ta chưa có điều kiện sưu tầm được. Một bậc danh sĩ đã đỗ tới Tiến sĩ, lại từng được cử đi sứ nhà Thanh, Trung Quốc, không có lý nào chỉ để lại cho hậu thế có 5 bài thơ được chép trong tập Bi ký biểu văn tạp lục!”. Sau khi phân tích và có những cảm nhận vừa tinh tế, vừa sắc sảo về 5 bài thơ của Nguyễn Trọng Thường, tác giả kết luận: “Ông là bậc danh sĩ có thi tài, rất đáng được hậu thế trân trọng và ghi nhận”(40). Đời Nguyễn có Thám hoa Nguyễn Văn Giao (1811-1863) không ra làm quan, mở trường dạy học và cũng để lại cho đời nhiều tác phẩm như: Vạn tự ngôn, Vịnh sử phú, Sử lãm kỷ yếu, Dụng nhân luận, Thưởng lãm thi tập bát thập thủ, thu dạ đối nguyệt ngâm, Hậu trì liêu hành, Nam quan lữ thoại…
Trong lĩnh vực sử học, Nguyễn Trọng Võ (Vũ) có công trong việc biên soạn sách Thực lục về liệt thánh. Tháng 4 năm Quý Tỵ (1833), vua Minh Mệnh sai đình thần biên soạn bộ Thực lục về liệt thánh (những ghi chép về các chúa Nguyễn từ thời chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ ở vùng Thuận Quảng về sau). Thời điểm đó, ông đang giữ chức Binh bộ Hữu Thị lang và thự Hữu Tham tri Binh bộ, được tuyển chọn vào đội ngũ những người tài giỏi, uyên thâm để biên soạn, cùng các bậc Thượng thư bộ Hộ Trương Minh Giảng, Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực làm Tổng tài; Tả Tham tri bộ Hộ Trương Đăng Quế, Hữu Tham tri bộ Hình Bùi Phổ, Hữu Tham tri bộ Công Nguyễn Trung Mậu, Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát Hà Duy Phiên, Thự Hữu Tham tri bộ Binh Nguyễn Trọng Vũ, Tả Thị lang bộ Lễ Lê Nguyên Trung đều sung làm Toản tu. Vua Minh Mệnh yêu cầu các quan phải "gia công khảo đính, sửa chữa, cốt cho đúng phương pháp trong cách chép hoặc tước bỏ, không thiếu sót trong việc sưu tầm lặt lượm. Mỗi khi làm xong một kỷ thì lại chuẩn cho viết rõ lại ngay, dâng lên. Sớm hôm ta thực nóng lòng mong đợi. Phải kính theo mà làm"(41).
Về công trình văn hóa còn lại đến ngày nay, đình Trung Cần ở Nghệ An không chỉ là một di tích lịch sử, kiến trúc, văn hóa mà còn là minh chứng cho vai trò của người dòng họ Nguyễn Trọng trong việc kiến thiết. Nguyễn Trọng Đường là người khởi xướng xây dựng đình Trung Cần khoảng năm Tân Sửu - Nhâm Dần (1781-1782), có sự hỗ trợ của ông nội Nguyễn Trọng Thường và người chú là Nguyễn Trọng Đương. Ngày nay, ở Trung Cần vẫn còn truyền khẩu hai bài vè ca ngợi việc dựng đình cho làng của Nguyễn Đường và cha chú:
Bài 1 có đoạn:
Có ba ông quan
Đắc bằng quan mới
Xã mừng hởi hởi
Xã cất đình lên
Đội thợ đôi bên
Thợ Sàng, thị Khuyển…
Bài 2 có đoạn:
Ngồi buồn nhớ chuyện tân triều
Nhớ quan tiến sĩ, nhớ điều vua ban
Mở mặt cho dân
Đình đền tu lí
Ba ông tiến sĩ
Sau trước cùng triều
Dân có lòng yêu
Xã liền lo lắng
Ba năm đằng đẵng
Xã cất đình lên
Kể chi bạc tiền
Thuê hai toán thợ(42)
Đình Trung Cần rất nguy nga tráng lệ, đẹp nhất vùng nên vua Tự Đức từng có ý định bắt thợ Trung Cần dỡ đình về xây cung điện Thái Hòa ở kinh đô Huế. Tuy nhiên, Lê Nguyên Trung can gián, nhà vua sùng bái Khổng Tử nên không dỡ đình. Đình Trung Cần được đánh giá là “một công trình văn hóa nghệ thuật bề thế, điêu luyện, một tác phẩm kiến trúc tuyệt xảo nhất vùng, cùng cụm đình Hoành Sơn, Dương Liễu đã có tiếng vang trong xứ Nghệ”(43). Đình Trung Cần được nhà nước cấp bằng Di tích Lịch sử Văn hóa quốc gia năm 1996.
Trong bài văn tế của chi trưởng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần (Nam Trung, Nghệ An) có đoạn viết:
Tổ tiên dòng dõi sáng ngời
Văn chương khoa giáp ở nơi triều đình
Võ tài cung kiếm quản binh
Đánh đông dẹp bắc thanh danh lưu truyền(44).
“Tứ thế ngũ hoàng hoa” là tứ thơ trong bài thơ người phương Bắc tặng Nguyễn Trọng Võ (Vũ) khi ông đi sứ thể hiện sự ghi nhận của triều đình nhà Thanh đối với các cá nhân và dòng họ Nguyễn Trọng. Đồng thời, câu thơ ấy cũng phản ánh đúng lịch sử huy hoàng của một dòng họ. Trong dân gian xứ Nghệ lưu truyền câu “Quan Trung Cần, dân Dương Liễu” cho thấy thực tế đất Trung Cần có nhiều người đỗ đạt làm quan, làm nên công danh sự nghiệp. Dù ở thời điểm nào, bối cảnh lịch sử thuận lợi hay khó khăn, phức tạp trong các thế kỷ XVII - XIX, những người con của dòng họ Nguyễn Trọng vẫn đóng góp tài trí của mình trên nhiều lĩnh vực để xây dựng vương triều và đất nước. 

Chú thích
1. Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, Tủ sách Đại Kết, Ủy ban đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1994, tr.7.
2. Lê Kim Ngân, Chế độ chính trị Việt Nam (thế kỷ XVII - XVIII), Sài Gòn, 1974, dẫn qua Phan Huy Lê (Cb), Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân, Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb. Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.324; Trần Thị Vinh (Cb), Lịch sử Việt Nam, Tập 4 (Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII), Nxb. KHXH, Hà Nội, 2013, tr.17.
3. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997, tr.219; Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2006, tr.7.
4. Lục bộ: Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Hình bộ và Công bộ.
5. Lục tự: Đại lý tự, Thái thường tự, Quang lộc tự, Thái bộc tự, Hồng lô tự, Thượng bảo tự.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998, tr.412.
7. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.842.
8. Samuel Baron, “Mô tả vương quốc Đàng Ngoài”, bản dịch, in trong Nguyễn Thừa Hỷ (Cb), Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội Tuyển tập tư liệu phương Tây, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010, tr.181.
9. Về “lưỡng đầu chế” hay “thể chế lưỡng đầu”, xin tham khảo Lê Kim Ngân, Chế độ chính trị Việt Nam (thế kỷ XVII - XVIII), Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1974.
10. Trần Thị Vinh (Chủ biên), Đỗ Đức Hùng, Trương Thị Yến, Nguyễn Thị Phương Chi, Lịch sử Việt Nam, Tập 4, Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2017, tr.301.
11. Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995, tr.170.
12. Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập III, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1960, tr.189.
13. Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971, tr.321; Phan Huy Lê (Cb), Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân, Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb. Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.483-484.
Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập II, Sđd, tr.500.
14. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr.71, 335-336.
15. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Sđd, tr.162.
Nguyễn Trọng Thanh Tùng, “Con cháu các thế hệ của dòng họ Nguyễn Trọng ở xứ Nghệ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông như thế nào?”, Sđd, tr.284.
16. Phan Huy Lê (Cb), Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân, Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb. Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2012, tr.658-661.
17. Nguyễn Thị Phương Chi, Lê Thùy Linh, “Các Tiến sĩ dòng họ Nguyễn Trọng trong văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr.79-80.
18. Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, tr.143.
19. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2018, tr.335.
20. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bia Văn Miếu Hà Nội, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1997, tr.510.
21. Đào Tam Tỉnh, “Họ Nguyễn làng Trung Cần và các nhân vật có đóng góp về văn hoá, lịch sử nước nhà”, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.22.
22. Nguyễn Trọng Thanh Tùng, “Con cháu các thế hệ của dòng họ Nguyễn Trọng ở xứ Nghệ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông như thế nào?”, in trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.287-288.
23. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký,  Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2018, tr.335.
24. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Sđd, tr.360.
Văn bia do ông soạn với tựa đề Trùng tu quan thượng Ngưỡng Đức đài bi kí nay vẫn còn và được chép lại trong Bi ký biểu văn tạp lục, lưu trữ tại Viện Hán Nôm.
25. Nguyễn Trọng Tráng, “Lạp Phong hầu Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đang và văn bia trùng tu đài Ngưỡng Đức trên ải Nam Quan”, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An, số 10 năm 2015.
26. Bùi Dương Lịch, Thanh Chương huyện chí, Bùi Văn Chất dịch, Nxb. Nghệ An, 2008, tr.72 - 73.
27. Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Sđd, tr.144.
28. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Sđd, tr.355.
29. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.608.
30. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.382; Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Nghệ An, 2005, tr.477.
31. Nguyễn Minh Tuân, “Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường và một dòng họ hào hoa xứ Trung Cần”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.74.
32. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 2, Nxb.Thuận Hóa, Huế, 2006, tr.205.
33. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2006, tr.732-733.
34. Đào Tam Tỉnh, “Họ Nguyễn làng Trung Cần và các nhân vật có đóng góp về văn hoá, lịch sử nước nhà”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.23.
35. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2006; Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao (Chủ biên), Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2000; Đinh Văn Niêm, “Họ Nguyễn Trọng làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một hiện tượng điển hình trong làng khoa bảng xứ Nghệ”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.159-163.
36. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992, tr. 872 (Bia Long Đức nhị niên Quý Sửu khoa tiến sĩ đề danh bi).
37. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.124.
38. Bi ký biểu văn tạp lục, ký hiệu A.1470, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
39. Nguyễn Minh Tường, “Vị trí của thơ trong nền khoa cử thời quân chủ và một số cảm nhận về tác phẩm thơ văn của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường”, Kỷ yếu hội thảo khoa học Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần Nghệ An, Sđd, tr.115, 127.
40. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập III, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007, tr.542.
41. Nguyễn Trọng Thanh Tùng, Con cháu các thế hệ của dòng họ Nguyễn Trọng ở xứ Nghệ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông như thế nào?, Hội thảo, tr.
42. Hồ Đại Khải, Hương xã Nam Trung (tạp ký), Tập 1, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996. Dẫn qua Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Sđd, tr.414-415. 
43. Nguyễn Trọng Thanh Tùng, “Con cháu các thế hệ của dòng họ Nguyễn Trọng ở xứ Nghệ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông như thế nào?”, Sđd, tr.284.
Tài liệu tham khảo
1. Alexandre de Rhodes, Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Hồng Nhuệ dịch, Tủ sách Đại Kết, Ủy ban đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1994.
2. Bi ký biểu văn tạp lục, ký hiệu A.1470, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
3. Nguyễn Thị Phương Chi, Lê Thùy Linh, “Các Tiến sĩ dòng họ Nguyễn Trọng trong văn bia ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
4. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
5. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
6. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993.
7. Đại Việt sử ký tục biên (1676 - 1789), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991.
8. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977.
9. Phạm Đức Thành Dũng, Vĩnh Cao (Chủ biên), Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 2000. 
10. Hồ Đại Khải, Hương xã Nam Trung (tạp ký), Tập 1, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996, dẫn qua Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015. 
11. Ngô Cao Lãng, Lịch triều tạp kỷ, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995.
12. Phan Huy Lê, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập III, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1960.
13. Phan Huy Lê (Cb), Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Hải Kế, Vũ Văn Quân, Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb. Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, 2012.
14. Bùi Dương Lịch, Nghệ An ký, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2018.
15. Bùi Dương Lịch, Thanh Chương huyện chí, Bùi Văn Chất dịch, Nxb. Nghệ An, 2008.
16. Lê Kim Ngân, Chế độ chính trị Việt Nam (thế kỷ XVII - XVIII), Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn, 1974.
17. Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2006.
18. Đinh Văn Niêm, “Họ Nguyễn Trọng làng Trung Cần, xã Nam Trung, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - một hiện tượng điển hình trong làng khoa bảng xứ Nghệ”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
19. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 2, Nxb.Thuận Hóa, Huế, 2006.
20. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
21. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập III, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 2007.
22. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Tập II, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1998. 
23. Samuel Baron, “Mô tả vương quốc Đàng Ngoài”, bản dịch, in trong Nguyễn Thừa Hỷ (Cb), Tư liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội Tuyển tập tư liệu phương Tây, Nxb. Hà Nội, Hà Nội, 2010.
24. Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi, Các nhà khoa bảng Việt Nam, Nxb. Văn Học, Hà Nội, 2006. 
25. Đào Tam Tỉnh, Khoa bảng Nghệ An (1075-1919), Nghệ An, 2005.
26. Đào Tam Tỉnh, “Họ Nguyễn làng Trung Cần và các nhân vật có đóng góp về văn hoá, lịch sử nước nhà”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
27. Nguyễn Trọng Tráng, “Lạp Phong hầu Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đang và văn bia trùng tu đài Ngưỡng Đức trên ải Nam Quan”, Tạp chí Khoa học - Công nghệ Nghệ An, số 10 năm 2015.
28. Nguyễn Minh Tuân, “Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường và một dòng họ hào hoa xứ Trung Cần”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
29. Nguyễn Trọng Thanh Tùng, “Con cháu các thế hệ của dòng họ Nguyễn Trọng ở xứ Nghệ đã phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông như thế nào?”, in trong Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
30. Nguyễn Minh Tường, “Vị trí của thơ trong nền khoa cử thời quân chủ và một số cảm nhận về tác phẩm thơ văn của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường”, Viện Sử học, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An, Hội đồng gia tộc họ Nguyễn Trọng, Kỷ yếu hội thảo khoa học “Truyền thống văn hóa - khoa bảng dòng họ Nguyễn Trọng Trung Cần, Nghệ An”, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, 2015. 
31. Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1971.
32. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Bia Văn Miếu Hà Nội, Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1997.
33. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992.
34. Trần Thị Vinh (Cb), Lịch sử Việt Nam, Tập 4 (Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013.
35. Trần Thị Vinh (Chủ biên), Đỗ Đức Hùng, Trương Thị Yến, Nguyễn Thị Phương Chi, Lịch sử Việt Nam, Tập 4, Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2017.




Cùng chuyên mục