Quay lại

Hoàn thiện thể chế, chính sách để “Văn hóa soi đường quốc dân đi”

Nguyễn Khắc Thuần  |   15/5/2023

* Đặt vấn đề: Tại Hội nghị văn hóa Toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân chính của những hạn chế, tồn tại, bất cập, yếu kém trên lĩnh vực văn hóa là: “Việc thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối văn hóa của Đảng còn thiếu đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả”, và nhấn mạnh: “Phải sớm khắc phục tình trạng chậm thể chế đường lối, quan điểm chủ trương của Đảng thành pháp luật và các chính sách cụ thể, khả thi và phát triển văn hóa, xây dựng con người… phát huy tối đa các nguồn lực từ Nhà nước và xã hội, từ trong nước và nước ngoài để phát triển văn hóa”.

Bám sát sự chỉ đạo đó, để từng bước đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, sau Hội thảo khoa học toàn quốc cuối năm 2022 về Hệ giá trị văn hóa Việt Nam, cuối tháng 12/2022 Ủy ban văn hóa, giáo dục của Quốc hội đã phối hợp với Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ VHTT và DL tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc về “Thể chế chính sách, nguồn lực cho phát triển văn hóa”. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ chính trị Phó chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ chính trị Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, chủ nhiệm UB VHQG Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh và Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ VHTT và DL Nguyễn Văn Hùng đã chủ trì hội thảo.
Dự hội thảo còn có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên ban Thường vụ quốc hội, các đồng chí Bộ trưởng, Bí thư, Phó Bí thư các Tỉnh ủy, Thành ủy, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội các tỉnh, đại diện các Ban quốc hội, Văn phòng Trung ương, Văn phòng chính phủ, các bộ ngành Trung ương, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam và hơn 800 các chuyên gia, nhà khoa học, đại diện các cơ sở nghiên cứu và đào tạo về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Đây là bước chuẩn bị về nhận thức, tình cảm để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp thu Nghị quyết chuyên đề về văn hóa của BCH Trung ương Đảng khoá XIII, thể hiện sự quan tâm sâu sắc, dày công lãnh đạo và chỉ đạo sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Đảng ta.
Bản Đề cương về Văn hóa Việt Nam đăng toàn văn trên Tạp chí Tiên Phong số 1 (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
* Thể chế, chính sách, pháp luật, thiết chế văn hoá bộ máy quản lý từng bước được hoàn thiện.
 
 
 
 
 
 
 
 
Hội thảo nhất trí, đánh giá những kết quả rất quan trọng đac đạt được. Đó là:
- Thể chế về văn hóa theo quan điểm của Đảng đã được xác lập nhất quán trong hệ thống pháp luật; đã khẳng định sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa là của toàn dân, do Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể hưởng thụ, sáng tạo và đội ngũ tri thức văn nghệ sỹ giữ vai trò quan trọng.
- Hệ thống pháp luật từng bước thể chế hóa đường lối chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa và con người Việt Nam đã phù hợp và ngày càng tiếp cận với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Đã quy định điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực, khía cạnh của đời sống văn hóa từ chăm lo giáo dục bồi dưỡng phát triển con người cho tới phát triển toàn diện, đồng bộ môi trường văn hoá, các lĩnh vực văn hoá, gắn với quyền và nghĩa vụ các chủ thể tham gia xây dựng và phát triển văn hoá. Các bộ luật ban hành đều chú trọng giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Hệ thống thiết chế văn hoá, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về văn hoá từng bước được kiện toàn.
- Nhiều chính sách văn hoá đã được ban hành có tác động tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển các lĩnh vực văn hoá, tập trung vào vấn đề lớn là phát triển con người Việt Nam toàn diện, xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, lành mạnh phong phú.
Sinh hoạt văn nghệ của cơ quan trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia)
* Nguồn lực đầu cho văn hoá được tăng cường
Nguồn nhân lực và các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hoá được quan tâm. Cả nước có hơn 40 trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học đào tạo lĩnh vực VHNT, 3 Viện nghiên cứu đào tạo công lập và tư thục tham gia đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành VHNT. Chính sách đãi ngộ với văn nghệ sỹ từng bước được hoàn thiện.
Nguồn lực tài chính và tài sản công đầu tư cho văn hoá có xu hướng gia tăng. Sau Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ 3 (2021) thì sự chuyển biến này càng mạnh mẽ hơn. Nguồn chi đầu tư của nhà nước được xác định là 1,6 - 1,7% tổng chi phát triển, đang tiệm cận khung kế hoạch là 1,8%. Ngoài ra đầu tư cho văn hoá còn được thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu về văn hoá và nguồn lực xã hội hoá.
- Tuy vậy, trong công tác xây dựng thể chế, ban hành chính sách và bảo đảm nguồn lực cho phát triển văn hoá còn tồn tại nhiều bất cập, khó khăn, vướng mắc, chậm khắc phục thể chế, chính sách pháp luật về văn hoá còn chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, một số quy định còn bất cập, chồng chéo, thiếu đồng bộ, hiệu quả thấp. Một số lĩnh vực còn thiếu văn bản, pháp luật điều chỉnh. Khâu thực thi pháp luật còn yếu kém. Thể chế về tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực này còn nhiều điều phải rà soát lại. Chính sách cho bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống chưa bao quát được toàn bộ giá trị các di sản, giá trị văn hoá của dân tộc. Chính sách cho công nghiệp văn hoá chậm được ban hành, thị trường và sản phẩm dịch vụ văn hoá còn manh mún. Cơ chế chính sách xây dựng văn hoá trong kinh tế, kinh tế trong VH huy động quản lý các nguồn lực cho văn hoá chưa cụ thể, chưa thực sự tạo ra nhiều ưu đãi hiệu quả để huy động các nguồn lực xã hội cho phát triển văn hoá, chưa khắc phục được tâm lý trông chờ, ỷ lại ngân sách nhà nước. Chính sách phát triển hệ thống trợ giúp thống kê, đánh giá, giám sát, hoạch định chính sách còn chưa được quan tâm đúng mức. Các chính sách ưu đãi khuyến khích các thành phần xã hội tham gia đầu tư phát triển văn hoá như thuế, phí, tín dụng… còn hạn chế, chưa thực sự tạo động lực cho văn hoá phát triển. Cơ chế chính sách chưa khuyến khích sự sáng tạo, chưa phù hợp với đặc thù hoạt động VHNT. Việc huy động nhân lực, vật lực, tài lực cho văn hoá còn bộc lộ nhiều yếu kém. Đội ngũ làm công tác văn hoá còn nhiều hạn chế cả số lượng và chất lượng. Tài sản, tài nguyên, di sản văn hoá chưa được khai thác hết. Các nguồn lực đầu tư dù được tăng cường nhưng còn thấp hơn yêu cầu. Các nguồn lực xã hội chưa được khơi thông.
* Những yêu cầu mới đang đặt ra
Trước thực trạng đó, để “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi”, thể chế, chính sách trong thời gian tới phải tập trung kiến tạo cho việc chấn hưng và phát triển văn hoá.
Nếu như thể chế phát triển chung của cả nước ta là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đều đặt ra yêu cầu phải kiến tạo phát triển và thúc đẩy hội nhập quốc tế thì thế chế và chính sách về văn hoá phải thực sự đáp ứng được yêu cầu kiến tạo cho việc chấn hưng và phát triển văn hoá, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng về văn hoá, quảng bá văn hoá Việt Nam ra thế giới và tiếp thu, chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới.
Muốn như vậy, phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản:
- Tạo hành lang pháp lý để tổ chức triển khai thuận lợi mọi hoạt động văn hoá trong khuôn khổ pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Phát huy tối đa năng lực sáng tạo, sự đa dạng và năng lực của văn hoá, tạo mọi điều kiện hội nhập thị trường văn hoá quốc tế.
- Chú trọng tính đặc thù của văn hoá để vừa phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng vừa bảo đảm tự do sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn.
- Văn hoá phải là trụ cột để phát triển đất nước bền vững.
- Giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa bảo tồn, phát triển văn hoá với tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Giữa lợi ích văn hoá của cộng đồng, giữa yếu tố dân tộc và quốc tế, giữa văn hoá đại chúng và văn hoá tinh hoa, bác học.
Hoàn thiện thể chế về văn hoá phải được tiến hành đồng bộ, kịp thời. Trước hết là rà soát hoàn thiện hệ thống pháp luật còn thiếu trong lĩnh vực văn hoá như VHNT biểu diễn, di sản văn hoá, quyền tác giả và quyền liên quan đáp ứng yêu cầu bảo hộ, thực thi quyền trong nước và hội nhập quốc tế. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các bất cập trong các chính sách đã ban hành, kịp thời hoàn thành việc thể chế hoá Nghị quyết Đại hội XIII về các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ, thông tin truyền thông, tín ngưỡng, tôn giáo.
Các vấn đề rất mới, phát sinh trong hoàn cảnh mới như cơ chế thị trường định hướng XHCN, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá và tiến bộ công bằng xã hội, xây dựng văn hoá trong chính trị, kinh tế và kinh tế trong văn hoá, phát triển công nghiệp văn hoá và thị trường văn hoá, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá… cần đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu và thực thi ở thực tiễn để đúc rút kinh nghiệm.
Thể chế quản lý nhà nước về văn hoá phải được đổi mới đồng bộ với quá trình hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao quản lý văn hoá phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường định hướng HXCN. Chú trọng vai trò của người dân trong sự phát triển sự nghiệp văn hoá nhất là xác lập cơ chế tự quản của cộng đồng xã hội để tự tổ chức, vận hành và trang bị cơ sở vật chất cho các thiết chế văn hoá cơ sở. Tăng cường phân cấp, phân quyền tạo cơ chế khuyến khích sự năng động, sáng tạo, chủ động trong quản lý các hoạt động của ngành văn hoá, bảo đảm yêu cầu quản lý toàn diện, đa ngành nhất là các ngành công nghiệp văn hoá. Hệ thống quy định về thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đơn giản, minh bạch.
* 9 nhóm chính sách lớn để tháo gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá
Tháo gỡ các điểm nghẽn trong lĩnh vực văn hoá cần được tiến hành đồng bộ, đồng thời theo hướng:
- Tất cả các chính sách đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phát triển toàn diện con người Việt Nam mang đầy đủ đặc trưng của con người XHCN. Quan tâm hơn tới các chính sách bồi dưỡng thế hệ trẻ chăm lo hỗ trợ các đối tượng đặc thù, dễ bị tổn thương, đề cao tính tiên phong gương mẫu trong văn hoá ứng xử của lãnh đạo, cán bộ, đảng viên.
- Chính sách xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh với các trọng tâm là xây dựng đời sống văn hoá, phát triển và quản lý hạ tầng, thiết chế văn hoá và không gian văn hoá đồng bộ. Trong đó phát triển cơ sở hạ tầng văn hoá hiện đại với lộ trình khoa học có trọng tâm để kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930-3/2/2030) và 100 năm ngày thành lập nước (2/9/1945-2/9/20450.
- Có chính sách để phát triển truyền hình và phát thanh thành ngành công nghiệp văn hoá mũi nhọn; hình thành các cơ sở giáo dục đào tạo cơ quan truyền thông mạnh, có năng lực cạnh tranh và ảnh hưởng ở tầm khu vực và quốc tế
- Với chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá dân tộc đây là tài sản vô cùng quý báu do tổ tiên cha ông ngàn năm để lại không phải nước nào cũng có được, chúng ta có trách nhiệm trân trọng, giữ gìn và phát huy. Đây là sức mạnh mềm của dân tộc.
- Với chính sách thúc đẩy sự phát triển VHNT cần bổ sung thêm những chính sách riêng biệt còn thiếu như sáng tạo quảng bá tác phẩm VHNT biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm, bổ sung các chính sách mới về hỗ trợ, quản lý hoạt động tuyên truyền, phổ biến tác phẩm văn học nghệ thuật trên không gian mạng, đào tạo nhân tài VHNT, bảo vệ quyền tác giả, bảo đảm môi trường tự do sáng tạo cho văn nghệ sỹ trong công cuộc xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam. Bảo đảm cơ chế thuận lợi cho hợp tác đào tạo trong lĩnh vực VHNT. Bổ sung chính sách đãi ngộ, tôn vinh một cách xứng đáng cả tinh thần vật chất với cống hiến thực tế của đội ngũ trí thức, văn nghệ sỹ, nghệ nhân, cán bộ ngành văn hoá.
- Có chính sách thúc đẩy hội nhập quốc tế về văn hoá, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
* 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên tập trung làm ngay
Trên cơ sở 9 nhóm chính sách, cần lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện đồng bộ 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
- Xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá với 9 nhóm chính sách đã thống nhất.
- Rà soát các nội dung về văn hoá trong 02 chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới + phát triển KT-VH vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) để có những điều chỉnh hợp lý.
- Tập trung triển khai có hiệu quả chiến lược, chương trình, đề án về xây dựng văn hoá công sở, văn hoá học đường, văn hoá doanh nghiệp và ngoại giao văn hoá.
- Đầu tư các công trình văn hoá mang tính biểu tượng quốc gia và thời đại Hồ Chí Minh. Phát triển các sản phẩm văn hoá có giá trị đỉnh cao về nghệ thuật và tư tưởng, phấn đấu có các tác phẩm VHNT xứng tầm.
- Đổi mới cơ chế hoạt động nhất là cơ chế tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hoá để thu hút, sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn.
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư cho phát triển các ngành CNVH, xây dựng chuỗi sản phẩm thương mại mang bản sắc Việt Nam.
- Chú trọng các cơ chế, chính sách phát huy, tạo điều kiện khuyến khích năng lực sáng tạo của các chủ thể văn hoá.
V iệc hoàn thiện thể chế, chính sách, khơi thông nguồn lực phát triển văn hoá là một trong những giải pháp quan trọng đóng góp vào chấn hưng và phát triển văn hoá trong thời gian tới. Cụ thể hoá và hiện thực hoá các mục tiêu chấn hưng và phát triển văn hoá theo đường lối Nghị quyết Đảng mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong Hội nghị văn hoá toàn quốc năm 2021 là biện pháp hàng đầu để đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống.


Tài liệu tham khảo
- Kỷ yếu Hội thảo “Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hoá” năm 2022.
- Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị văn hoá toàn quốc lần thứ III (2021).

Cùng chuyên mục